![]() |
|
|
#1 | |||||
|
Cám ơn: 3
Được Thank 61 lần ở 32 bài viết
|
Cái nài mình copy của bác Charlie’s Angle từ bên topic kia qua cho mọi ngừoi tiện theo dõi hơn
(Địa Tạng bồ tát) Ksitigarbha is also known in English as Earth Store, Earth Treasury, or Womb of the Earth. In Chinese, Dizang/Ti-Tsang Pusa. In Japanese, Jizo Bosatsu. In Tibetan, Sye Nyingpo. *. Reciting Ksitigarbha's Mantra of Eradicating Negative Karma Niệm Thần chú Địa Tạng làm tiêu nghiệp chướng xấu The 'Mantra of Eradicating Negative Karma' is 'Om, Bo La Mo, Ling To Ning, Soha.' Thần chú làm tiêu nghiệp chướng xấu : 'Om, Bo La Mo, Ling To Ning, Soha’
-Note: This mantra is inscribed on the back of the statue. The recitations should be done with a pure and focused mindset. A practitioner should accomplish a certain number of recitations each session. The number of recitations is your own choosing (e.g. 108 times, 500 times, 1000 times, etc.) (Ghi chú: Thần chú này được ghi phía sau của tượng những cầu nguyện này nên thực hiện với tâm thanh tịnh và tập trung. Người thực hành nên hoàn thành 1 số lần cầu nguyện nhất định. Số lượng cầu nguyện thì tùy bạn chọn, ví dụ 108 lần, 500 lần, 1.000 lần…) * Reciting The Great Vow of Bodhisattva Ksitigarbha 'The Great Vow of Bodhisattva Ksitigarbha' is? ( Đại nguyện của Địa Tạng Bồ tát là gì) 'Only when all sentient beings are rescued will I certify to Bodhi. If the hells are not emptied, I vow not to become a buddha.' ( Chỉ khi nào chúng sanh được giải thoát hết, tôi mới chứng bồ đề Nếu địa ngục chưa hết người khổ, tôi nguyện sẽ không thành Phật ) -Note: The recitations should be done with a pure and focused mindset. A practitioner should accomplish a certain number of recitations each session. The number of recitations is your own choosing (e.g. 108 times, 500 times, 1000 times, etc.) (ghi chú: những cầu nguyện này nên thực hiện với tâm thanh tịnh và tập trung. Người thực hành nên hoàn thành 1 số lần cầu nguyện nhất định. Số lượng cầu nguyện thì tùy bạn chọn, ví dụ 108 lần, 500 lần, 1.000 lần…) *This is Ksitigabha Bodhisattva Tibetan Mantra for Eradicating Fixed Karma: Thần chú của Địa Tạng bồ tát theo phái Tây tạng để tiêu nghiệp chướng đang mang: Om, Pra, Ma Ni, Da Ni, So Ha = Om Pra Mani Dhani Svaha ( 2 cách đọc giống nhau)
thay đổi nội dung bởi: nail_clipper, 10-12-2009 lúc 08:18 AM. |
|||||
|
|
|
|||||
| The Following 2 Users Say Thank You to nail_clipper For This Useful Post: | cab-driver (11-01-2009), .[DDK]_DK1305 (11-05-2009) |
|
|
#2 |
|
Cám ơn: 0
Được Thank 13 lần ở 13 bài viết
|
NIỆM DANH HIỆU BỒ TÁT ĐỊA TẠNG VƯƠNG, SIÊU ĐỘ NGHIỆP CHƯỚNG
THÀNH TÂM NIỆM DANH HIỆU BỒ TÁT ĐỊA TẠNG VƯƠNG, CÓ THỂ SIÊU ĐỘ NGHIỆP CHƯỚNG ( HÒA THƯỢNG TUYÊN HÓA ) [Bạn phải đăng kí mới thấy được link này ] "Trực tâm là Đạo Tràng". Bất luận quý vị là người xuất gia hay là tại gia, trong bất cứ hoàn cảnh nào đều phải thành thật và ngay thẳng. Không được nói dối, không làm những việc mạo hiểm , cũng không đầu cơ hoặc đánh cá ngựa. Trong bất cứ hoàn cảnh nào phải dùng tâm chân thật không dùng tâm cầu cạnh dua nịnh. Chúng ta phải có tâm chân thật trong mọi hòan cảnh, cái tâm phải biết dung hòa để hòa hợp với người khác. Để có tâm chân thật có nghĩa là để tu Đạo Bồ Đề, và đừng bao giờ làm trở ngại hay chướng ngại người khác. Nếu chúng ta làm hại hay chướng ngại người khác, chúng ta tạo nhân cho quả báo xấu. Khi quả báo của chúng ta đến, nếu chúng ta không sám hối mà lại cứ tiếp tục lừa dối người càng nhiều thêm, thi chúng ta lại sẽ tạo ra thêm nhiều nghiệp xấu nữa, khó mà tiêu trừ được. Lần này (năm 1982) khi tôi đến Châu Á, tôi có gặp một người phụ nữ là cô họ Vương ở Penang. Trong tiền kiếp cô thích ăn móng gấu và óc khỉ. Cô đập đầu khỉ nứt ra để uống óc khỉ. Cô cũng chặt móng gấu, chiên lên để ăn. Vì những nghiệp chướng trong quá khứ này, Kiếp này cô sanh ra làm người phụ nữ. Tuy nhiên, thay vì sửa chữa lỗi lầm và bắt đầu đời mới, cô vẫn tiếp tục tạo nghiệp xấu. Cô đã giết hai nhân mạng bằng cách phá thai hai lần. Hai vong linh thai nhi bị phá thai này cùng kêu gọi những con ma là các chúng sinh mà cô đã làm hại trong tiền kiếp. Vì thế, cô bị ung thư. Trong thời gian thăm tôi viếng Penang, người phụ nữ trẻ này đã phát đại tâm sám hối và bệnh ung thư của cô đã thuyên giảm. Tiếc thay, hai tuần sau cô lại quay trở lại tập quán cũ, tái lập liên hệ với người bạn trai và lại còn làm những hành vi không phù hợp Phật Pháp. Sau đó một thời gian ngắn, bệnh ung thư của cô trở lại. Cô bị bệnh là do nghiệp chướng của cô gây ra. Nếu cô thật tâm sám hối về những lỗi lầm trong quá khứ và sửa đổi lại thì cô đã có một phần vạn cơ hội để khỏi bệnh. Nếu không, không có thuốc nào có thể chữa và ngay cả Phật và Bồ tát cũng chẳng cứu được cô. Có câu nói rằng, "Tội từ tâm khởi, đem tâm sám.". Nếu chúng ta không sám hối và sửa đối với tâm chân thành, thì nghiệp chướng của chúng ta sẽ quay trở lại. Trong trường hợp của cô họ Vương, vì cô không thành tâm sám hối và sửa đổi, nên bệnh ung thư của cô đã trở lại. Đáng lẽ cô phải viết thư cho tôi khi bệnh cô trở lại. Nếu cô ấy nói thật với tôi, có lẽ lúc đó còn có thể làm đuợc cái gì đó. Thay vì làm như vậy, cô đã nói dối với tôi và nói với tôi là cô sắp sang Mỹ. Trước khi tôi rời Mã Lai, tôi có bảo cô rằng sau khi khỏe mạnh hơn và nếu có khả năng mua vé máy bay sang Mỹ, thì cô có thể đến Hoa Kỳ và xuất gia đề tu hành. Nói cách khác, đáng lẽ cô phải sang Mỹ sau khi cô được chữa khỏi bệnh. Nhưng, người phụ nữ trẻ này chỉ sang Mỹ sau khi khí bệnh ung thư tái phát; cô đến để chết ở Vạn Phật Thánh Thành. Chỉ đến lúc khi bệnh của cô đã quá tầm tay của Y khoa thi cô mới lên máy bay một cách rất khó khăn và đến Mỹ vào ngày 24 tháng trước. Với loại xảo quyệt này, bệnh của cô càng khó chữa lành. Vì hành vi của cô là hoàn toàn giả dối, không thành thật và thủ đoạn, ngay cả Phật và Bồ Tát cũng không thể giúp được cô. Bây giờ cô đang ở trong bệnh viện, cơ hội sống chỉ còn 0.5 phần vạn. Tối nay chúng ta hãy thành tâm hồi hướng công đức cho cô, mong rằng cô sẽ bình phục. Mặc dù cô lừa dối tôi, lừa dối nơi tỉnh giác này tức cũng có nghĩa là lừa dối mọi người ở đây, nhưng tất cả chúng ta đều có lòngtừ bi. Cô ta từ nơi rất xa đến đây, hy vọng cô có thể đuợc cứu sống khỏi tay tử thần. Nếu còn có thể cứu cô ta được, chúng ta nên cố gắng hết sức. Nếu không thể cứu cô ta, chúng ta cũng cố gắng hết sức. Nỗ lực của tập thể rất mạnh, chúng ta thành tâm giúp cô tiêu trừ những nghiệp chướng của cô. Hãy theo tiếng mõ, và vì cô ta mà niệm hồng danh Bồ Tát Địa Tạng Vương . Trong lúc chung ta niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng Vương , những nghiệp chướng của cô đáng lẽ phải được tiêu trừ. Tuy nhiên, khi nghiệp quá khứ của cô được tiêu trừ thì nghiệp mới tích tụ lại cũng nhanh như vậy. Thật ra, chúng ta đang giúp cô ta tiêu trừ những nghiệp chướng vô tận mà lúc sanh ra cô đã có. Tôi nghĩ nếu chúng ta muốn cứu người này, chúng ta cần bắt đầu Thất Địa Tạng vào ngày mai. Hãy thanh tâm niệm danh hiệu Bồ Tát và hồi hướng công đức cho cô, hy vọng cô sẽ bình phục. Khi chúng ta giúp người khác với lòng thành khẩn thì chư Phật và Bồ Tát nhất định cùng sẽ giúp chúng ta ... Hôm nay chúng ta cùng phát tâm để hồi hướng công đức cho người phụ nữ trẻ này. Có phải thân nhân của cô ta yêu cầu chúng ta làm công việc này không? Không, họ không có yêu cầu. Tuy nhiên, dù là họ không biết, chúng ta vẫn hồi hướng công đức cho cô. Là Phật tử, chúng ta không cần được thỉnh cầu mới giúp đỡ người khác. Chúng ta cảm thấy thương xót người phụ nữ trẻ này và cố hết sức mình để giúp cô ta. Chúng ta nương tựa vào uy lực của Bồ Tát Quan Thế Âm và Bồ Tát Địa Tạng Vương. Nếu cô ta tỉnh lại thi thật là tuyệt hảo; nếu không, đó chỉ vì nghiệp chướng của cô quá nặng. Dẫu sao đi nữa, chúng ta hãy cố gắng hết sức mình, tất cả chúng ta nên nỗ lực làm việc! Hiện nay, càng lúc các nhiều tai họa trên thế giới, trong khi đó càng lúc càng ít người tu Đạo Bồ Đề. Thêm nữa, càng lúc càng có nhiều người phá giới. Tại sao thế giới ngày càng trở nên tệ hại? Chúng ta hãy nghiên cứa câu hỏi căn bản này. Nguyên nhân của vấn đề này là con người không giữ năm giới, đặc biệt là giới không tà dâm. Đàn ông và đàn bà đều sai lầm nghĩ rằng thỏa mãn ham muốn tình dục là một loại khoái lạc. Như có câu nói là “quay lưng với giác ngộ, phối hợp với bụi trần (bội giác hợp trần)” và "nhận kẻ giặc làm con”. Họ cho đau khổ là khoái lạc, đen là trắng, và cho sự thật là hão huyền. Họ quá mê lầm đến nỗi họ hành động cẩu thả và không chánh đáng, dường như họ đi ngược đầu thay vì đứng thẳng. Thêm vào đó, thay vì biết giữ gìn tinh lực quý giá, những người nam nữ mỗi ngày làm những việc mà cuối cùng chỉ là thương tổn chính họ. Đàn ông không biết cư xử như người đàn ông chính trực, phụ nữ không biết cư xử như người phụ nữ chính trực; những điều họ biết chỉ là làm cách nào để thỏa mãn ham muốn nhục dục của họ. Ngày nay, nam nữ sinh viên, nhất là những người trong những đại học nổi tiếng, họ sống chung và tham gia những hành vi chung chạ. Những hành động này đưa đến những sự mang thai ngoài ý muốn. Đề tránh những sự mang thai ngoài ý muốn này, các phương tiện ngừa thai được phát minh. Nhiều người nghĩ rằng dùng phương tiện ngừa thai tốt hơn là đối phó với những khó khăn do những sự có thai ngoài ý muốn. Thật ra, dùng biện pháp ngừa thai là không đúng vì nó ngược lại những chức năng sinh học trong việc giao hợp, và đó cũng là một loại nghiệp chướng. Thêm vào đó, những người phát minh ra những phương pháp ngừa thai cuối cùng đã gây hại cho nhiều thanh niên nam nữ , vì những người trẻ sẽ dễ dàng tham gia hành vi tà dâm hơn khi nghĩ rằng họ không phải lo lắng về chuyện có thể mang thai. Ngoài phương pháp ngừa thai, nam nữ còn dùng sự phá thai để đương đầu với những bào thai ngoài ý muốn do những hành vi đồi trụy của họ. Bằng cách phá thai, họ tạo ra một tội nặng nề hơn - tội sát sanh. Nói cho rõ, trong khi dùng biện pháp ngừa thai là một hành động sát sanh gián tiếp; thì phá thai là hành vi sát sanh trực tiếp. Tất cả những việc sát sanh này làm gia tăng lòng oán hận trên thế gian. Những năng lực xấu này cũ chồng chất, kết quả là có những bệnh lạ. Khi quý vị nghiên cứu sâu xa hơn, quý vị sẽ thấy rằng : Nếu đàn ông, đàn bà không luôn phá luật về hành vi luân lý thì đã chẳng xảy ra quá nhiều những bệnh tật lạ với những triệu chứng khác thường không giải thích được và không chữa được. Bây giờ, ngoài ung thư còn có những bệnh khác cũng khó chữa hoặc không thể chữa được. Những vấn đề này đều đầu tiên bắt nguồn từ phạm giới về tà dâm, rồi thì giới sát sinh. Những hành động không chính đáng này sẽ có tiếp theo sau là sự phạm giới ăn cắp, nói dối và dùng chất say. Năm giới luật này là những luật lệ quan trọng nhất trong đời sống chúng ta. Vì thế, mọi người phải giữ năm giới. Thuở xưa, khi vị Chuyển Luân Thánh Vương còn ở trên thế gian để giáo hóa chúng sanh, mọi người đều giữ năm giới, tuân theo và thực hành mười điều thiện (Thập Thiện) và ăn chay. Vào thời đó, không có thiên tai và mọi người được hưởng rất nhiều phước báo, nhiều người có thần thông và mở ngũ nhãn. Trái lại ngày nay, tiêu chuẩn đạo đức ngày càng suy đồi. Sự suy đổi trong phẩm cách con người cũng làm cho cả thế giới suy đồi. Quý vị có muốn biết tại sao có quá nhiều người bị ung thư? Tình trạng này là do nghiệp sát sanh tạo ra. Quý vị hãy suy nghĩ về việc này, qua sự phá thai, quý vị đã tận diệt những mạng sống ngay trước khi chúng có cơ hội chào đời. Trong hoàn cảnh này, sự oán giận của những bào thai không được sinh ra không thật là kinh khủng hay sao ? Nói tóm lại, thế giới và con người càng ngày càng tệ hại hơn. Tất cả chỉ vì nghiệp sát sinh. Người tại Vạn Phật Thánh Thành, vì biết nhân quả báo ứng tuần hoàn, chúng ta hãy làm giảm nghiệp xấu trên thế giới, Như vây thế giới sẽ không có nhiều thiên tai, giúp nhân loại bớt đi một chút đau khổ, và bệnh tật của nhân loại cũng bớt đi một chút. Chúng ta hãy cùng nhau giúp cô họ Vương xem như đây là một cơ hội để nỗ lực và thành tâm niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng Vương . Niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng Vương có thể giúp giảm nghiệp xấu của chúng sinh; và để cho những kẻ thù, thân nhân và những chủ nợ của họ từ vô lượng kiếp về trước được sinh về Tây Phương Cực Lạc. Lần tụng niệm này cũng sẽ giúp tất cả kẻ thù, thân nhân và chủ nợ của chúng ta được được sinh về Tây Phương Cực Lạc. Hãy nhân cơ hội này để niệm danh hiệu Địa Tạng Vương Bồ Tát với sự nỗ lực và thành tâm. Khi chúng ta giúp những người đang bệnh hay đang đau khổ, chúng ta cũng đang độ cha mẹ, tổ tiên, kẻ thù, thân nhân, và chủ nợ của chúng ta trong những đời quá khứ, và giúp họ lìa khổ được vui, và liễu sanh thoát tử. Có một phần công sức thì sẽ được một phần kết quả tương ứng. Khí quý vị niệm danh hiệu Địa Tạng Vương Bồ Tát với sự nỗ lực và thành tâm, Ngài sẽ cảm động. Biết rằng quý vị đang niệm danh hiệu Ngài với lòng thành khẩn như vậy, Bồ Tát Địa Tạng Vương sẽ siêu độ tất cả nghiệp chướng của quý vị, Ngài cũng giúp quý vị tu Đạo Bồ Đề, tiến bộ trên đường Đạo này mà không bị ma chướng, sớm tiêu trừ các nghiệp chướng, mau xa lìa đau khổ và vãng sanh về Thế Giới Cực Lạc. Đó là lý do chính để chúng ta tham dự Thất Địa Tạng. Vì thế, mọi người hãy chân thật và thành tâm để siêu độ cha mẹ, tổ tiên, kẻ thù, thân quyến và chủ nợ của chúng ta trong những kiếp trước. Hãy để cho họ dùng cơ hội này để lia khổ đuoc vui. Đừng để thời gian trôi quá vô ích! Lời Soạn Giả: Dù cô họ Vương đã tạo nhiều nghiệp xấu trong quá khứ, cô đã phát đại tâm sám hối tại Penang. Trước đại chúng hơn hai ngàn người, cô thành thật nói về những hành vi không tốt đẹp của cô, và cầu xin sự gia hộ từ bi của chư Phật, chư Bồ Tát và của Hòa Thượng khi cô quyết tâm sám hối và thay đổi. Khi ấy bệnh ung thư của cô được thuyên giảm. Tuy nhiên, cô trở lại thói quen cũ sau khi phát tâm sám hối, và dùng phương tiện gian dối để đến Vạn Phật Thánh Thành. Vì cô làm thêm nhiều nghiệp chướng, nên khó mà tránh được nghiệp quả không lành. Vì thế, mặc dù bốn chúng đệ tử tại Vạn Phật Thánh Thành đã vì cô mà tổ chức hai Thất Địa Tạng và nhiều bác sĩ đã cố gắng để cứu cô, nhưng cô đã mất vài tuần sau đó. Chúng ta có thể nói rằng cô họ Vương đã hiện thân thuyết Pháp và hãy xem đây là sự cảnh tỉnh cho tất cả chúng ta. theo [Bạn phải đăng kí mới thấy được link này ]
__________________
Hãy cho lòng mở rộng ra, Thương yêu tất cả như hòa hư không. Đừng mến tiếc, hãy thong dong, Bỏ qua tất cả cõi lòng thảnh thơi. |
|
|
|
| The Following User Says Thank You to Charlie's Angel For This Useful Post: | cab-driver (11-01-2009) |
|
|
#3 |
|
Cám ơn: 1
Được Thank 12 lần ở 11 bài viết
|
KINH ÐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN Hán Dịch: Tam Tạng Pháp Sư Pháp Ðăng [Bạn phải đăng kí mới thấy được link này ]Việt Dịch: HT Thích Trí Tịnh ![]() ![]() PHẨM THỨ MƯỜI MỘT: ÐỊA THẦN HỘ PHÁP Lúc đó vị Kiên Lao Ðịa Thần bạch cùng Ðức Phật rằng: 'Bạch đức Thế-Tôn! Từ trước đến nay, con từng chiêm ngưỡng đảnh lễ vô lượng vị đại Bồ Tát, đều là những bực trí huệ thần thông lớn không thể nghĩ bàn độ khắp mọi loài chúng sanh. Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát đây so với các vị Bồ Tát chỗ thệ nguyện rất là sâu rộng. Bạch đức Thế-Tôn! Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát đây có nhơn duyên lớn với chúng sanh trong Diêm Phù Ðề. Như Ngài Văn Thù, Ngài Phổ Hiền, Ngài Quan Âm, Ngài Di Lặc cũng hóa hiện trăm nghìn thân hình để độ chúng sanh trong sáu đường, nhưng chỗ phát nguyện của các Ngài còn có lúc hoàn mãn. Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát đây phát thệ nguyện giáo hóa tất cả chúng sanh trong sáu đường trải đến kiếp số như số cát trong trăm nghìn ức sông Hằng. Bạch đức Thế-Tôn! Con xem xét chúng sanh ở hiện tại nay và về vị lai sau, nơi chỗ sạch sẽ ở phương nam trong cuộc đất của mình ở, dùng đất đá tre gỗ mà dựng cất cái khám cái thất. Trong đó có thể họa vẽ, cho đến dùng vàng, bạc, đồng, sắt đúc nắn hình tượng Ðịa-Tạng Bồ Tát, đốt hương cúng dường, chiêm lễ ngợi khen, thời chỗ người đó ở được mười điều lợi ích. Những gì là mười điều? Một là đất cát tốt mầu, Hai là nhà cửa an ổn mãi mãi, Ba là người đã chết được sanh lên cõi trời, Bốn là những người hiện còn hưởng sự lợi ích, Năm là cầu chi cũng toại ý cả, Sáu là không có tai họa về nước và lửa, Bẩy là trừ sạch việc hư hao, Tám là dứt hẳn ác mộng, Chín là khi ra lúc vào có thần theo hộ vệ, Mười là thường gặp bực Thánh Nhơn. Bạch đức Thế-Tôn! Chúng sanh trong đời sau cùng hiện tại nay, nếu ở nơi phần đất của mình cư trụ mà có thể làm ra sự cúng dường Ngài Ðịa-Tạng như thế, thời được sự lợi ích như vậy'. Vị Kiên Lao Ðịa Thần lại bạch với đức Phật rằng: 'Bạch đức Thế-Tôn! Trong đời sau này, như có người thiện nam kẻ thiện nữ nào ở trong chỗ của mình cư trụ mà có kinh điển này cùng hình tượng của đức Ðịa-Tạng Bồ Tát, người đó lại có thể đọc tụng kinh điển này và cúng dường hình tượng của Bồ Tát. Thời con dùng thần lực của con thường hộ vệ người đó, cho đến tất cả sự tai họa như nước, lửa, trộm, cướp, nạn lớn, nạn nhỏ, v.v... thảy đều tiêu sạch'. Ðức Phật bảo Kiên Lao Ðịa Thần rằng: 'Thần lực rộng lớn của ông, các thần khác ít ai bằng. Vì cớ sao? Vì đất đai trong cõi Diêm Phù Ðề đều nhờ ông hộ trợ, cho đến cỏ cây, cát đá, lúa mè, tre lau, gạo thóc, của báu, tất cả những thứ từ đất mà có ra đều nhờ nơi sức thần của ông cả. Nay ông lại tuyên bày những sự lợi ích của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, thời công đức và thần thông của ông lại càng thêm trăm nghìn lần trội hơn lúc thường. Này Ðịa Thần! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào cúng dường Ðịa-Tạng Bồ Tát cùng đọc tụng kinh điển này, chỉ có thể tu hành theo một việc mà trong kinh 'Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện' đã dạy. Thời ông nên dùng thần lực của ông mà ủng hộ người đó, chớ để tất cả sự tai hại cùng sự không vừa ý đến nghe nơi tai, huống nữa là để cho phải chịu. Chẳng phải chỉ riêng mình ông hộ trì người đó, cũng có hàng quyến thuộc của Phạm Vương, Ðế Thích, quyến thuộc của chư Thiên ủng hộ người đó. Tại sao lại đặng các vị Hiền Thánh ủng hộ như thế? Ðều do vì những người ấy chiêm lễ hình tượng của Ðịa-Tạng Bồ Tát và đọc tụng kinh 'Bổn Nguyện' này, tự nhiên được rốt ráo xa lìa biển khổ chứng đạo Niết Bàn an vui, vì thế nên đặng ủng hộ một cách lớn lao như thế'. ------------- PHẨM THỨ MƯỜI HAI: THẤY NGHE ÐƯỢC LỢI ÍCH 1) ÐỨC PHẬT PHÓNG QUANG TUYÊN CÁO. - Lúc đó, từ trên đảnh môn đức Thế-Tôn phóng ra cả trăm nghìn muôn ức tia sáng lớn. Như là: tia sáng sắc trắng, tia sáng sắc trắng lớn, tia sáng lành tốt, tia sáng ngọc, tia sáng ngọc lớn, tia sáng sắc tía, tia sáng sắc tía lớn, tia sáng sắc xanh, tia sáng sắc xanh lớn, tia sáng sắc biếc, tia sáng sắc biếc lớn, tia sáng sắc hồng, tia sáng sắc hồng lớn, tia sáng màu lục, tia sáng màu lục lớn, tia sáng màu vàng y, tia sáng màu vàng y lớn, tia sáng tướng mây lành, tia sáng tướng mây lành lớn, tia sáng tướng nghìn vòng tròn, tia sáng tướng nghìn vòng tròn lớn, tia sáng vòng tròn báu, tia sáng vòng tròn báu lớn, tia sáng vừng mặt trời, tia sáng vừng mặt trời lớn, tia sáng vừng mặt trăng, tia sáng vừng mặt trăng lớn, tia sáng tướng cung điện, tia sáng tướng cung điện lớn, tia sáng tướng mây biển, tia sáng tướng mây biển lớn. Từ trên đảnh môn phóng ra những luồng ánh sáng như thế xong, lại nói ra những tiếng rất vi diệu mà bảo đại chúng rằng: 'Này tám bộ chúng Trời, Rồng, người cùng phi nhơn v.v...! Lóng nghe hôm nay ta ở tại cung trời Ðao Lợi tuyên bày ngợi khen những sự lợi ích trong hàng trời người, những sự không thể nghĩ bàn, những sự về nhơn hạnh lên bực Thánh, những sự chứng quả Thập Ðịa, những sự rốt ráo không lui sụt nơi đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác... của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát'. 2) QUÁN THẾ ÂM CẦU THỈNH. - Lúc Ðức Phật nói lời trên đó vừa dứt tiếng, trong Pháp-hội có một vị đại Bồ Tát hiệu là Quán Thế Âm từ chỗ ngồi đứng dậy, quì gối chắp tay mà bạch cùng Ðức Phật rằng: 'Bạch đức Thế-Tôn! Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát đầy đủ đức từ bi lớn. Ngài thương xót chúng sanh mắc tội khổ ở trong muôn nghìn ức thế giới. Ngài hóa hiện ra ức thân bao nhiêu công đức và sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn của Ngài. Con đã từng nghe đức Thế-Tôn cùng vô lượng chư Phật trong mười phương, khác miệng đồng lời ngợi khen Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát. Dầu cho các Ðức Phật trong thuở quá khứ, thuở hiện tại và thuở vị lai nói công đức của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát vẫn chẳng thể nói hết. Vừa rồi lại được đức Thế-Tôn bảo khắp trong đại chúng rằng đức Phật muốn tuyên nói các sự lợi ích của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát. Cúi mong đức Thế-Tôn vì tất cả chúng sanh ở hiện tại và vị lai mà tuyên nói những sự chẳng thể nghĩ bàn của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, làm cho tám bộ chúng Trời, Rồng,v.v...chiêm ngưỡng lễ lạy Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát để đặng phước lành'. 3) ÐỨC PHẬT TÁN THÁN VÀ HỨA KHẢ. - Ðức Phật bảo Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát: 'Ông có nhơn duyên rất lớn với chúng sanh trong cõi Ta Bà. Những hàng Trời, Rồng, hoặc Quỉ, cho đến chúng sanh mắc phải tội khổ trong sáu đường nếu kẻ nào nghe danh hiệu của ông, thấy hình tượng của ông, hay mến tưởng đến ông cùng khen ngợi ông. Thời những chúng sanh ấy đều ở nơi đạo vô thượng chánh giác quyết chẳng còn thối chuyển, thường được sanh vào cõi người, cõi trời hưởng đủ sự vui vi diệu, khi nhơn quả sắp thành thục liền được Phật thọ ký cho. Nay ông sẵn lòng từ bi lớn thương xót các loài chúng sanh và tám bộ chúng Trời, Rồng, v.v... mà muốn nghe ta nói những sự lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát. Ông nên lóng nghe cho kỹ, nay ta sẽ nói đó!' Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát bạch rằng: 'Vâng! Bạch đức Thế-Tôn con xin ưa muốn nghe.' 4) THẤY NGHE THÊM PHƯỚC TRỜI. - Ðức Phật bảo Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát: 'Trong các thế giới về thuở hiện tại nay và vị lai sau, có vị trời nào, hưởng phước trời đã mãn, năm tướng suy hao hiện ra nơi thân, hoặc có kẻ phải đọa lạc vào nơi chốn ác đạo. Các vị trời đó, hoặc nam hoặc nữ đương lúc tướng suy hao hiện, hoặc thấy hình tượng của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, hoặc nghe tên Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, rồi một lần chiêm ngưỡng một lần đảnh lễ. Thời các vị trời đó càng thêm lớn phước trời, hưởng sự vui sướng rất nhiều không bao giờ còn phải bị đọa lạc vào ba ác đạo nữa. Huống chi là những người thấy hình tượng Bồ Tát, nghe danh hiệu Bồ Tát rồi đem các thứ hương hoa, đồ y phục, đồ uống ăn, vật báu, chuỗi ngọc... mà bố thí cúng dường, thời người này đặng vô lượng vô biên công đức phước lợi. 5) NGƯỜI BỊNH ÐƯỢC LỢI - Lại vầy nữa này Quán Thế Âm! Trong các thế giới về thuở hiện tại nay và vị lai sau, những hàng chúng sanh trong sáu đường, như có kẻ sắp mạng chung mà đặng nghe một tiếng danh hiệu của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát thoáng qua lỗ tai, thì kẻ mạng chung đó không còn bị đọa vào chốn khổ ba ác đạo. Huống chi là lúc sắp mạng chung, cha mẹ cùng hàng thân quyến đem của cải nhà cửa, vật báu, y phục v.v... của người sắp mạng chung đó mà làm của chi phí để tô đắp hay họa vẽ hình tượng của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát. Rồi làm cho người bịnh lúc chưa chết, hoặc mắt thấy tai nghe biết rằng hàng thân quyến đem nhà cửa vật báu v.v... vì mình mà tô vẽ hình tượng của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát. Người bịnh đó nếu có nghiệp báo phải mang lấy bịnh nặng, thời nhờ công đức này liền được lành mạnh, tuổi thọ thêm lâu. Còn nếu người bịnh đó có nghiệp báo số mạng đã hết, lại có đủ tất cả tội chướng nghiệp chướng đáng lẽ phải đọa vào chốn ác đạo, song vì nhờ công đức này nên sau khi mạng chung, liền được sanh vào cõi trời, cõi người hưởng quả vui thù thắng vi diệu, tất cả tội chướng thảy đều tiêu sạch. 6) TIÊN VONG ÐƯƠC PHƯỚC. - Lại vầy nữa, này Quán Thế Âm Bồ Tát! Về đời sau, nếu có kẻ nam tử, người nữ nhơn nào, hoặc lúc còn bú mớm, hoặc lúc lên ba tuổi, hoặc lúc lên năm tuổi, mười tuổi trở xuống mà chết mất anh chị em. Ðến khi người đó khôn lớn nhớ tưởng đến cha mẹ cùng hàng thân quyến không rõ đọa lạc vào chốn nào, hay sanh về thế giới nào, hoặc sanh lên cõi trời nào? Người đó như có thể tô vẽ hình tượng của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, nhẫn đến nghe danh hiệu của Ngài rồi một lần chiêm ngưỡng, một lần đảnh lễ, từ một ngày cho đến bảy ngày đừng thối thất tâm ban đầu, nghe danh hiệu thấy hình tượng chiêm lễ cúng dường. Thời quyến thuộc đã sớm khuất của người đó nếu do ác nghiệp mà bị đọa vào ác đạo tính ra phải chịu đến số kiếp, nay nhờ công đức tô vẽ hình tượng của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát và chiêm lễ cúng dường của con cái, hay của anh em chị em, nên liền đặng giải thoát, được sanh lên cõi trời cõi người hưởng quả vui thù thắng vi diệu. Còn như quyến thuộc đã sớm khuất của người đó có phước lành, đã được sanh lên cõi trời cõi người hưởng thọ quả vui thù thắng vi diệu rồi, thời nhờ công đức này càng thêm lớn nghiệp nhơn về bực Thánh, hưởng vô lượng quả vui. Như người đó lại có thể trong hai mươi mốt ngày, chuyên lòng chiêm lễ hình tượng của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát và niệm lấy danh hiệu của Ngài đủ số một muôn biến, sẽ đặng Ðịa-Tạng Bồ Tát hiện vô biên thân, mách cho người đó rõ nơi cõi của hàng thân quyến sớm khuất kia đã sanh về. Hoặc trong giấc mộng, Ðịa-Tạng Bồ Tát hiện sức thần thông lớn, tự dắt người đó đến các thế giới thấy hàng quyến thuộc. Nếu người đó lại có thể trong mỗi ngày niệm danh hiệu của Bồ Tát một nghìn biến luôn đến một nghìn ngày. Thời người đó sẽ được Bồ Tát sai các vị Quỉ Thần ở tại chỗ đó hộ vệ trọn đời. Hiện đời món ăn đồ mặc dư dật, không có các thứ bịnh khổ, cho đến các sự tai vạ còn không hề vào đến cửa, huống nữa là đến nơi thân. Rốt ráo rồi người đó được Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát xoa đảnh thọ ký cho. 7) NGUYỆN LỚN SỚM THÀNH. - Lại vầy nữa, này Quán Thế Âm Bồ Tát! Về đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào muốn phát lòng từ rộng lớn để cứu độ tất cả chúng sanh, muốn tu đạo vô lượng chánh giác, muốn thoát khỏi tam giới. Những người đó thấy hình tượng và nghe danh hiệu của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, rồi chí tâm quy y hoặc đem hương hoa, y phục, vật báu, đồ ăn uống, v.v... để cúng dường chiêm ngưỡng đảnh lễ thời chỗ nguyện cầu của kẻ thiện nam cùng thiện nữ đó mau được thành tựu không bao giờ bị chướng ngại. Lại vầy nữa, này Quán Thế Âm Bồ Tát! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam, người thiện nữ nào, muốn cầu trăm nghìn muôn ức điều nguyện trăm nghìn muôn ức sự về hiện tại cùng vị lai, thời chỉ nên quy y chiêm ngưỡng đảnh lễ, cúng dường, ngợi khen hình tượng của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát. Ðược như thế thời nguyện những chi và cầu những chi thảy đều thành tựu cả. Lại cầu mong Ðịa-Tạng Bồ Tát, vận đức từ bi rộng lớn ủng hộ mãi cho, người đó trong giấc chiêm bao liền đặng Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát xoa đảnh thọ ký. 8) ÐƯỢC TRÍ HUỆ. - Lại vầy nữa này Quán Thế Âm Bồ Tát! Trong đời sau, như có người thiện nam, kẻ thiện nữ nào sanh lòng rất trân trọng đối với kinh điển đại thừa, phát tâm bất tư nghị muốn đọc muốn tụng kinh điển ấy. Dầu gặp đặng bực minh sư truyền dạy cho những người đó học tập, nhưng đọc rồi quên rồi, trải đến cả tháng cả năm vẫn không đọc tụng được. Những kẻ thiện nam đó vì có nghiệp chướng đời trước chưa trừ sạch, cho nên ở nơi kinh điển đại thừa không có công năng đọc tụng. Nhưng hạng người này khi nghe danh hiệu của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, đem hết bổn tâm cung kính bày tỏ với Bồ Tát, rồi dùng hương hoa, y phục, đồ ăn, tất cả đồ ngọa cụ, v.v... cúng dường hình tượng Bồ Tát. Dùng một chén nước trong để trước tượng Bồ Tát một ngày một đêm, sau đó cung kính chắp tay thỉnh để uống, xây mặt về hướng nam. Khi nước vào miệng phải chí tâm trịnh trọng, uống nước xong, phải cữ ngũ tân, rượu, thịt, tà dâm, vọng ngữ và các việc giết hại trong bảy ngày hoặc hai mươi mốt ngày. Người thiện nam cùng thiện nữ đó trong giấc chiêm bao thấy Ðịa-Tạng Bồ Tát hiện thân vô biên rưới nước trên đảnh của người đó. Sau khi thức dậy, người đó liền đặng thông minh, một phen nghe đến những kinh điển đại thừa ấy liền sẽ nhớ mãi, không bao giờ còn quên một câu kệ nữa. 9) TAI NẠN TIÊU TRỪ. - Lại vầy nữa, này Quán Thế Âm Bồ Tát! Về trong đời sau, như có những người nào ăn mặc không đủ, cầu chi cũng không toại nguyện, hoặc thân nhiều tật bịnh, hoặc nhiều sự hung suy, nhà cửa không yên ổn, quyến thuộc chia lìa, hoặc các sự tai vạ cứ đến khuấy nhiễu nơi thân luôn, trong giấc mộng thường phải kinh sợ. Những người như thế đó, khi nghe danh hiệu của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, thấy hình tượng của Ðịa-Tạng Bồ Tát nên chí tâm cung kính niệm đủ một muôn biến. Thời những sự không toại ý trên đó sẽ tiêu sạch lần lần, liền đặng an vui, đồ ăn mặc dư dật, cho đến trong giấc mộng thẩy đều an ổn vui vẻ. 10) KHỎI HIỂM NGUY. -Lại vầy nữa, này Quán Thế Âm Bồ Tát! Về đời sau, nếu có người thiện nam thiện nữ nào, hoặc nhơn sự làm ăn, hoặc nhơn sự công chuyện tư, hoặc nhơn sự sanh cùng tử, hoặc nhơn việc gấp mà phải vào trong rừng núi, hay là qua sông vượt biển hoặc gặp nước lụt lớn, hoặc đi ngang đường hiểm trở. Người ấy trước khi đi nên niệm danh hiệu của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát một muôn biến, được thế thời đi qua nơi nào chốn nào cũng có các vị Quỉ Thần hộ vệ, lúc đi đứng, khi nằm ngồi, đều được an ổn vui vẻ luôn, cho đến dầu gặp loài hùm sói sư tử... nhưng tất cả thứ độc hại đều không thể phạm đến người đó được. Ðức Phật bảo Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát: 'Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát có nhơn duyên rất lớn với cõi Diêm Phù Ðề. Nếu nói về những sự mà các hàng chúng sanh thấy hình nghe tên của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát được lợi ích, thời dầu nói đến trong trăm nghìn kiếp cũng không biết được. Này Quán Thế Âm Bồ Tát! Vì thế Ông nên dùng thần lực mà lưu truyền kinh này làm cho chúng sanh trong cõi Ta Bà đây mãi đến trăm nghìn kiếp được hưởng những sự an vui luôn'. Bấy giờ đức Thế-Tôn liền nói kệ rằng: -Ta xem Ðịa-Tạng sức oai thần kiếp số Hằng-sa khó tỏ trần, Thấy nghe một niệm chiêm ngưỡng lễ, Trời, người lợi ích sự không ngằn, - Hoặc Rồng hoặc Thần cùng nam - nữ Báo tận sẽ sa vào đường dữ, Chí tâm qui mạng Ðại Sĩ thân, Tuổi thọ thêm nhiều trừ tội dữ. Trẻ thơ chết mất mẹ cùng cha, Huynh đệ chị em kẻ ruột rà, Lớn khôn nghĩ đến đều không biết, Nẻo dữ đường lành ở đâu là? Hoặc vẽ, hoặc tô Ðại Sĩ hình Cảm thương chiêm lễ biệt chẳng đành, Hăm mốt ngày luôn niệm danh hiệu. Bồ-tát hiện thân đến bên mình: Chỉ rành quyến thuộc ở nơi nào, Dầu sa ác thú cũng ra mau, Nếu được không lui lòng kính ngưỡng, Thánh ký, Bồ-tát vuốt đầu trao. Bồ-đề vô thượng muốn tu hành, Mong ra ba cõi khỏi tử sinh, Người này đã phát lòng bi lớn Trước nên chiêm lễ Ðại Sĩ hình. Nghe tên quy y đấng trọn lành, Cúng dường cung kính phát lòng thành, Nghiệp chướng chẳng hề ngăn chướng đặng Bao nhiêu mong ước sớm viên thành. Có kẻ phát tâm tụng kinh sách Muốn độ chúng sanh khỏi tai ách Dầu lập nguyện lớn chẳng nghĩ bàn Ðọc rồi quên rồi luôn sót mất. Người này nghiệp chướng nó làm mê Học đại thừa kinh khó mọi bề Y phục, uống ăn, các ngọa cụ, Cúng dường Ðịa-Tạng với hương hoa. Dùng chén nước trong bày trước tượng, Cách một ngày đêm bưng lấy uống, Sanh lòng ân trọng cữ ngũ tân Rượu thịt, tà dâm cùng dối luống. Trong hăm mốt ngày chớ sát sanh, Chuyên lòng tưởng niệm Thượng Nhơn danh, Chiêm bao thấy rõ Tôn-dung hiện, Thức rồi, liền đặng trí khôn lanh. Ðại Thừa kinh giáo nghe qua tai, Nghìn vạn đời sau nhớ chẳng sai, Chính nhờ Ðại Sĩ oai thần lớn Thầm giúp người kia có huệ tài. Chúng sanh nghèo khổ lại ốm đau, Cửa nhà họa hoạn, người lìa nhau Ngủ mê mộng mị không an giấc, Cầu muốn hỏng hư chẳng được nào! Dốc lòng chiêm lễ Ðịa-Tạng Ngài, Bao nhiêu việc ác thảy tiêu ngay Nhẫn đến chiêm bao đều an cả, Quỉ Thần phò hộ, của dư xài. Muốn qua sông biển, đến núi rừng, Cầm thú độc nguy, giặc đón đường, Ác Thần, ác Quỉ, mưa gió dữ, Nhiều nỗi gian nan khốn không lường, Sắp sửa ra đi đối trước tượng Cúng dường kính lễ cùng chiêm ngưỡng. Núi rừng biển cả có vào trong Ác tai tiêu sạch thường an sướng. Quán Âm lóng nghe ta nói rõ Ðịa-Tạng vô lượng oai thần đó, Trăm nghìn muôn kiếp thuật chẳng rồi, Rộng tuyên Ðại Sĩ đầy sức nọ! Như người nghe đến Ðịa-Tạng danh, Thấy hình chiêm lễ hết lòng thành, Hương hoa, ăn uống, dưng y phục, Trăm nghìn báo đẹp hưởng điều lành. Nếu hay đem công hồi pháp giới, Rốt ráo thành Phật, sanh tử khỏi, Quán Âm nên biết gắng tuyên bày, Truyền khắp Hằng-sa nhiều nước cõi! ------------------ PHẨM THỨ MƯỜI BA: 1) ÐỨC PHẬT GIÁO PHÓ.DẶN DÒ CỨU ÐỘ NHƠN THIÊN - Lúc đó đức Thế-Tôn giơ cánh tay sắc vàng xoa đảnh Ngài Ðịa-Tạng đại Bồ Tát mà bảo rằng: 'Ðịa-Tạng! Ðịa-Tạng! Thần lực của ông không thể nghĩ bàn, đức từ bi của ông không thể nghĩ bàn, trí huệ của ông không thể nghĩ bàn. Dầu cho các Ðức Phật ở mười phương khen ngợi tuyên nói những sự chẳng thể nghĩ bàn của ông trăm nghìn muôn kiếp cũng chẳng hết đặng. Này Ðịa-Tạng! Ðịa-Tạng! Ông nên nhớ hôm nay ta ở trong cung trời Ðao Lợi, nơi pháp hội lớn có trăm nghìn muôn ức bất khả thuyết, bất khả thuyết tất cả các đức Phật, các vị Bồ Tát, các hàng Trời, Rồng, tám bộ chúng đây, một lần nữa đem các hàng chúng sanh, những kẻ ở trong nhà lửa chưa ra khỏi ba cõi, mà giao phó cho ông. Ông chớ để các chúng sanh đó phải bị đọa vào các ác đạo dầu là chừng một ngày, một đêm, huống chi lại để cho chúng nó phải bị đọa lạc vào địa ngục ngũ vô gián cùng địa ngục A Tỳ, mãi đến nghìn muôn ức kiếp không lúc nào ra khỏi ư. Này Ðịa-Tạng! Tâm tánh của chúng sanh cõi Diêm Phù Ðề không định, phần đông đều quen theo thói ác, thoảng hoặc có người phát tâm lành, nhưng rồi không bao lâu liền thối thất, còn như duyên ác lại luôn luôn tăng trưởng. Cũng vì lẽ đó, nên ta phải chia thân này ra trăm nghìn ức để hóa độ, thuận theo căn tánh của chúng nó hầu làm cho chúng nó được giải thoát. Này Ðịa-Tạng! Hôm nay ta ân cần đem chúng Trời, Người giao phó cho ông. Trong đời sau, như có hàng Trời, Người cùng thiện nam, thiện nữ nào trồng chút ít căn lành ở trong Phập-pháp, chừng bằng sợi lông, mảy trần, hột cát, giọt nước, thời ông nên dùng đạo lực của ông ủng hộ người đó, làm cho người đó tu tập lần lần đạo hạnh vô thượng, chớ để họ thối thất. Lại vầy nữa, này Ðịa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, hoặc có trời hay người nào phải theo nghiệp mà thọ báo bị đọa vào chốn ác đạo, đến khi bị đọa vào ác đạo vừa bước đến cửa địa ngục, những chúng sanh đó nếu có thể niệm đặng danh hiệu của đức Phật, hay danh hiệu của một vị Bồ Tát, cùng một câu kệ kinh điển đại thừa. Ông nên dùng thần lực của ông tìm phương chước cứu vớt các chúng sanh đó. Ông nên hiện thân ra trước kẻ đó, phá tan địa ngục làm cho họ được sanh lên cõi trời hưởng những sự vui vi diệu thù thắng'. Bấy giờ đức Thế-Tôn liền nói kệ rằng: Ðời nay đời sau chúng Thiên, Nhơn Nay ta ân cần dặn bảo ông; Dùng đại thần thông quyền độ họ, Ðừng cho ác đạo đọa vào trong. 2) BỒ TÁT TUÂN CHỈ. - Bấy giờ Ngài Ðịa-Tạng đại Bồ Tát quỳ gối chắp tay bạch cùng Ðức Phật rằng: 'Bạch đức Thế-Tôn! Cúi xin đức Thế-Tôn chớ lo. Trong đời sau, nếu có người thiện nam cùng kẻ nữ nào, đối với trong Phật-pháp có một niệm cung kính, con cũng dùng trăm nghìn phương tiện độ thoát người đó, làm cho mau đặng giải thoát trong đường sanh tử, huống nữa là nghe các việc lành rồi luôn luôn tu hành, tự nhiên ở nơi đạo vô thượng không bao giờ còn thối chuyển'. 3) HƯ KHÔNG TẠNG BẠCH HỎI. - Lúc Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch lời nói trên đó vừa xong, trong pháp hội có một vị Bồ Tát tên là Hư Không Tạng bạch cùng đức Phật rằng: 'Bạch đức Thế-Tôn! Từ khi con đến cung trời Ðao Lợi này nghe đức Như Lai ngợi khen oai thần thế lực không thể nghĩ bàn của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát. Trong đời sau, hoặc có người thiện nam cùng thiện nữ nào, cho đến tất cả hàng Trời, Rồng v.v... nghe kinh điền này và nghe danh tự của Ðịa-Tạng Bồ Tát, cùng với chiêm lễ hình tượng Ðịa-Tạng Bồ Tát, thời những kẻ ấy được bao nhiêu điều phước lợi? Cúi mong đức Thế-Tôn vì tất cả hàng chúng sanh ở hiện tại và vị lai mà nói lược việc ấy cho'. 4) HAI MƯƠI TÁM ÐIỀU LỢI - Ðức Phật bảo Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát: 'Lóng nghe! lóng nghe cho kỹ! Ta sẽ vì ông mà nói rõ việc ấy cho. Trong đời sau, người thiện nam cùng thiện nữ nào thấy hình tượng của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát và nghe kinh này, cho đến đọc tụng, dùng hương hoa, đồ ăn món uống, y phục, vật báu mà bố thí, cúng dường, ngợi khen, chiêm lễ , thời kẻ ấy được hai mươi tám điều lợi sau đây: 1.- Các hàng Trời, Rồng thường hộ niệm. 2.- Quả lành càng ngày càng thêm lớn. 3.- Chứa nhóm nhơn vô thượng của Thánh. 4.- Mãi không còn thối thất đạo Bồ Ðề. 5.- Ðồ mặc món ăn dồi dào đầy đủ. 6.- Những bịnh tật không đến nơi thân. 7.- Khỏi những tai nạn về lửa và nước. 8.- Không có bị hại vì trộm cướp. 9.- Người khác thấy đến sanh lòng cung kính. 10.- Các hàng Quỉ Thần theo hộ trì. 11.- Ðời sau thân gái sẽ chuyển thành thân trai. 12.- Ðời sau sẽ làm con gái các hàng Vương Giả, Ðại Thần. 13.- Thân tướng xinh đẹp. 14.- Phần nhiều được sanh về cõi trời. 15.- Hoặc làm bực vua chúa. 16.- Có trí sáng biết rõ việc trong những đời trước. 17.- Có mong cầu chi cũng được toại ý. 18.- Quyến thuộc an vui. 19.- Các tai vạ bất ngờ đều dứt sạch. 20.- Các nghiệp về ác đạo đều trừ hẳn. 21.- Ði đến đâu cũng đều không bị sự trở ngại. 22.- Ðêm nằm chiêm bao an ổn vui vẻ. 23.- Những người thân tộc đã chết nếu có tội thời được khỏi khổ. 24.- Nếu về đời trước có phước thời được thọ sanh về cõi vui sướng. 25.- Các bực Thánh ngợi khen. 26.- Căn tánh lanh lợi thông minh. 27.- Giàu lòng từ mẫn. 28.- Rốt ráo thành Phật. 5) BẢY ÐIỀU LỢI - Lại vầy nữa, nầy Hư Không Tạng Bồ Tát! Như hàng Trời, Rồng, Quỉ, Thần ở hiện tại và vị lai nghe danh hiệu của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, đảnh lễ hình tượng của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, hoặc nghe các sự về bổn nguyện tu hành của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát mà ngợi khen chiêm lễ, thời sẽ đặng bảy điều lợi ích: 1.- Mau chứng bực Thánh. 2.- Nghiệp ác tiêu diệt. 3.- Chư Phật đến ủng hộ. 4.- Không thối thất Bồ Ðề. 5.- Bổn lực được tăng trưởng. 6.- Việc đời trước đều rõ biết. 7.- Rốt ráo thành Phật'. 6) ÐẠI HỘI TÁN THÁN. - Bấy giờ, bất khả thuyết tất cả các Ðức Phật và đại Bồ Tát cùng tám bộ chúng Trời, Rồng ... ở mười phương đến dự Pháp-hội đó, nghe đức Thích Ca Mâu Ni Phật ngợi khen tuyên bày sức oai thần lớn chẳng thể nghĩ bàn của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, đều khen là việc chưa từng có. Lúc đó trời Ðao Lợi rưới vô lượng hương hoa, thiên y, chuỗi ngọc để cúng dường đức Thích Ca Mâu Ni Phật và Ðịa-Tạng Bồ Tát xong rồi. Tất cả đại chúng trong pháp hội đều lại chiêm lễ chắp tay mà lui ra. KINH ÐIA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN QUYỂN HẠ HẾT
__________________
Ai cũng phải chết, bít vậy để sống cho tốt hơn
thay đổi nội dung bởi: Lữ Bố, 11-20-2009 lúc 03:49 PM. Lý do: Automerged Doublepost |
|
|
|
|
|
#4 |
|
Cám ơn: 0
Được Thank 13 lần ở 13 bài viết
|
KHUYÊN HÀNH GIẢ TỊNH ĐỘ KIÊM TRÌ TỤNG KINH ĐỊA TẠNG Tâm Nhiên biên soạn Thích Pháp Chánh dịch 5/ Sự Linh Cảm Của Bồ Tát Địa Tạng Pháp Sư Chữ Vân thuật I/ Một câu chuyện cảm động. Lần này (năm 1961) giảng kinh Địa Tạng, tại Đại Nguyện Đài, Địa Tạng Điện, huyện Gia Nghĩa. Nghe nói miếu này đã được xây khoảng hơn ba trăm năm. Thuở đó, có một người từ Gia Nghĩa, tỉnh Đài Loan, đến hành hương tại núi Cửu Hoa, tỉnh An Huy, đã cung thỉnh một pho tượng Bồ Tát Địa Tạng trở về, liền xây một ngôi miếu để thờ, từ đó đến nay khách thập phương đến lễ bái tấp nập không dứt, những ghi chép về sự linh ứng cũng rất nhiều. Bút giả xin ghi lại một câu chuyện như sau. II/ Lâm Đăng Chương hàm oan bị giam vào ngục, người vợ bán con chuộc mạng cho chồng. Câu chuyện xảy ra khoảng hơn một trăm năm về trước. Có một người tên Lâm Đăng Chương, trú tại một làng cách Gia Nghĩa độ mười mấy dặm, là một người lương thiện. Chẳng may, bị một bọn lưu manh vu cáo, đưa đến cửa quan, rồi bị giam vào ngục. Người vợ, Thấy chồng mình bị giam oan ức, cảnh nhà lại thanh bần, bèn đi bôn ba các nơi kêu oan cho chồng, bà ấy đem tất cả vật dụng trong nhà bán hết, lấy tiền lo lắng công việc, mà vẫn không thể nào lo cho chồng thoát tội. Sau đó, nghe tin quan huyện nhất định đòi bốn chục lượng bạc mới tha cho chồng, bà ấy trong hoàn cảnh bất đắc dĩ, chỉ còn cách cắn răng nhắm mắt, đem đứa con trai cưng độc nhất đem bán lấy bốn chục lượng bạc, người mối lại lấy tiền huê hồng ba lượng, chỉ còn lại ba mười bảy lượng, không biết có đủ để chuộc tội cho chồng hay không. Mỗi lần vào thăm chồng lại bị bọn giữ ngục chửi rủa, làm khó dễ, mục đích muốn vòi tiền. Bọn họ nói: “Dựa núi ăn núi, dựa nước uống nước”. Đúng vậy, kiện cáo đến cửa quan, có việc đến nha môn, nếu không có tiền, dù có lý do, cũng không vào được. Đây là điều xưa nay vẫn thế. Bà Lâm, mỗi lần đến đều phải cười nói đon đã, lại còn phải có chút quà cáp biếu xén, nếu không đừng hòng đến thăm chồng. Người xưa có câu: “Diêm vương dễ gặp, tiểu quỷ khó chơi.” Hôm đó đem bạc đến chuộc chồng, dĩ nhiên cũng không khác hơn mọi lần. Thuở đó, giam ngục ở tại Đại Nhai, hiện là đường Ngô Phụng. Gần đó có một tiệm bán trầu cau. Bà Lâm đến đó mua một ít để làm lễ vật làm quà cho bọn canh ngục. Nào ngờ, sau khi lấy tiền mua trầu cau, lúc gói lại thì túi đựng ba mươi bảy lượng bạc rớt lúc nào không hay. Sau đó, lúc đến giao bạc cho quan, đưa tay vào lấy túi bạc, miớ phát giác túi bạc đã mất, bà Lâm kinh hoảng, mặt mày trắng bệch, không còn chút máu, hoảng sợ đến nỗi khóc không ra tiếng. Bán mất đứa con trai yêu, chỉ hy vọng chuộc chồng trở về, hiện nay bạc cũng đã mất, chồng cũng không thể ra khỏi ngục, chỉ còn có nước đi tự vận. Lúc đó, bà Lâm cũng chưa nãn chí, bèn men theo con đường cũ để tìm, giả như không tìm lại được, thì chỉ còn con đường chết. III/ Đứa trẻ nhà nghèo thấy của không tham. Trong huyện Gia Nghĩa có một con phố, hiện nay là đường Quang Minh, có một miếu thờ Thổ địa. Trong miếu có môt đứa trẻ ăn mày tên là Từ Lương Tứ trú ngụ. Nó không những mồ côi nghèo khổ, mà lại còn bị tàn phế. Một chân bị liệt, không thể cử động, thành thử phải lê trên mặt đất để đi. Ban ngày ở bên lề đường xin ăn, ban đêm về ngủ ở miếu Thổ địa. Hôm đó, đang lúc nó đang lết đi xin ăn, bổng thấy từ phía xa có một phụ nữ đang mua trầu cau xong vội vàng bước đi, túi bạc rớt trên mặt đất. Nó bèn lết tới nơi, lượm túi bạc lên, định rượt theo để giao lại cho bà ấy, nhưng rất tiếc lại không thể theo kịp, mặc dù nó gọi lớn, nhưng người đàn bà cũng không nghe thấy, nó bèn mở túi bạc ra xem, thì thấy đựng ba mươi bảy lượng bạc. Thằng bè tuy đã từng thấy qua những lượng bạc sáng ngời như thế, nhưng cũng cảm thấy thất kinh. Tuy thế nó lại không khởi tâm tham muốn, mà lại nghĩ rằng người đàn bà lúc nãy dáng dấp rất vội vã, ắt là phải có một việc rất quan trọng, không thể tùy tiện lấy bạc đem đi, giả như người đó trở lại tìm kiếm không thấy, ắt có nước tự sát, bèn ở đó đợi người đàn bà trở lại. Đợi một lúc thật lâu, thì mới thấy một người đàn bả, vẻ mặt rất lo lắng, chạy đông chạy tây như đang tìm kiếm vật gì. Nó biết là khổ chủ trở lại, đợi khi người đàn bà đến gần, bèn lấy tay kéo vạt áo bà ấy. Bà Lâm tưởng là thằng nhỏ muốn xin tiền, bèn nhăn mặt quát lên: “ Tao đang lo gần chết, làm gì có tiền cho mầy. Đi chỗ khác. Tao đang tìm món đồ bị mất.” Thằng Từ Lương Tứ có lòng tốt, lại bị mắng oan, thế mà nó cũng vẫn trả lời nhỏ nhẹ: “Bà ơi, bà tìm vật gì mà gấp dữ vậy, nói tôi nghe, biết đâu tôi có thể giúp bà.” Bà Lâm nghe nói như thế, giống như người đang chết được cứu sống, bèn vui mừng hỏi đứa bé: “Thiệt sao!” Thằng bé trả lời: “Dĩ nhiên. Tôi mới lượm được một món, nếu bà nói đúng, tôi sẽ trả lại cho bà.” Bà Lâm mặt mày nhợt nhạt nói: “Tao đánh mất một bao vải, trong đó đựng ba mươi bảy lượng bạc. Đây là số tiền tao đã bán đứa con trai. Chồng tao bị vu oan, bị giam vào ngục. Quan đòi bốn mươi lượng bạc mới có thể chuộc tội. Bất đắc dĩ tao mới bán con, người mối lấy hết ba lượng, còn ba mươi bảy lượng. Tao không biết là có đủ để chuộc chồng hay không, nào ngờ lại bị rớt mất. Nếu như tìm không được, chồng tao không ra khỏi ngục, con tao đã bị bán mất, người của không còn, tao chỉ còn nước tự sát mà thôi!” Nói xong, bà ấy khóc ròng. Lúc đó, có nhiều người háo kỳ vây quanh hỏi đông hỏi tây, Từ Lương Tứ cũng không còn nghi ngờ bèn nói với bà ấy: “Tôi cũng không quanh co, số bạc đó hiện tôi đang giữ. Đây là lúc bà mua trầu cau bị rớt. Tôi vì không chạy theo được, gọi lớn bà cũng không nghe, cho nên đã ở đây đợi bà trở lại. Hiện nay số bạc đang ở đây, bà thử đếm lại.” Thằng bé giao túi bạc xong, bèn bỏ đi không nói một lời. Bà Lâm nhận được túi bạc, lòng mừng khấp khởi, quên bẳng thằng bé ăn mày, ngay đến tên họ cũng không thèm hỏi, vội vã đem món tiền đến cửa quan chuộc tội cho chồng. Ông huyện nghe câu chuyện, mới biết số bạc là do bán con mà được, lại nghe chuyện đứa bé ăn mày thấy tiền không tham, thầm nghĩ mình còn lương tâm nào lấy tiền bán con của người khác? Nhân đây, sáng hôm sau bèn ra lệnh thả người chồng, mà không đòi tiền chuộc. Đây là do câu chuyện của đứa trẻ ăn mày họ Từ, làm cho ông quan cảm động. Sau khi ra khỏi ngục, Lâm Đăng Chương biết con đã bị bán, bèn đi tìm tung tích của đứa con, tốn cũng khá bộn tiền, nhưng rốt cuộc cũng vẫn không tìm ra. Hai vợ chồng bèn lập một tiệm bán đồ sắt gần chợ làm sinh kế sống qua ngày. IV/ Lòng tốt được quả báo tốt, hết bị tàn phế. Nói về Từ Lương Tứ, sau khi trở về miếu Thổ địa trú một đêm, sáng hôm sau là tiết Thanh minh. Sáng sớm nó ra khu mồ mả công cộng, gọi là “Đông Lang Phiền Gian” ở ngoại thành, xin bánh in mà mọi người đã cúng tổ tiên để ăn. Nhân vì đường xa lại trời mưa, trở về hơi trễ, nó lại lê lết chậm chạp, thành thử khi về đến cổng thành, thì cổng thành đã đóng kín. Bất đắc dĩ, nó bèn đến miếu Địa Tạng ở vùng phụ cận (Hiện nay là số 81 đường Dân Quyền), cầu khẩn ông từ cho nó được ngủ tạm một đêm tại chánh điện. Ông từ cũng biết mặt nó, bèn cho nó ở tạm. Nó ngủ đến nửa đêm, bổng nhiên lớn tiếng kêu gào thảm thiết, van xin quỷ tha tội cho nó. Ông từ tưởng nó lên cơn, bên đến la nó hai lần, nhưng nó vẫn không nghe. Ông từ bị nó làm náo loạn cả đêm không ngủ được, giận muốn sôi gan. Sáng hôm sau, vừa thức dậy ông ta đã đi ra chánh điện định đuổi nó đi, thấy nó đang nằm ngủ say như chết. Ông từ bèn lớn tiếng kêu nó tỉnh dậy, mắng nó tại sao tối hôm qua kêu ma kêu quỷ. Từ Lương Tứ nghe tiếng kêu lớn bèn kinh hãi giật mình đứng dậy, chính nó cũng không biết, chạy đến trước mặt ông từ. Ông từ thấy thế cảm thấy vô cùng kinh ngạc đến đỗi phát run, vội vàng lùi bước. Không ngờ chỉ trong một đêm mà nó có thể đi lại tự nhiên? Ông bèn hỏi ra thì biết tối hôm qua nó nằm ngủ trước tượng ngài Địa Tạng, mộng thấy Bồ tát kêu hai con quỷ, một cao một thấp, một con quỷ giữ lấy thân trên, một con thì nắm lấy hai chân của nó, hai con quỷ bèn kéo mạnh ra, làm nó đau đớn kêu la không dứt. Hai con quỷ không đếm xỉa, cứ tiếp tục kéo cái chân què của nó, khiến nó đau đớn chịu không nổi bèn ngất đi. Sau đó thiếp đi lúc nào không biết. Hiện giờ, nó cũng chưa biết cái chân què đó đã trở nên bình thường. Sự vui mừng còn nhiều hơn so với hôm qua lượm được túi bạc. Ông từ thấy nó được sự linh cảm như thế, bèn không mắng nữa, mà cũng mừng lây cho nó. Từ Lương Tứ bây giờ mới biết Bồ Tát Địa Tạng hiển linh, trị lành sự tàn phế cho nó, bèn quỳ trước tượng ngài, nước mắt chảy ròng, cảm kích vô vàn, rập đầu lạy tạ. V/ Sau khi hết tật, gánh nước mưu sinh. Sau khi Từ Lương Tứ hết bị tàn tật, có nhiều người đến chúc mừng, thế nhưng, nó lại bắt đầu cảm thấy lo lắng. Lúc tàn phế, thì còn có thể đi xin ăn, bây giờ thân thể bình thường, đâu còn có thể tiếp tục đi xin được. Nhất định phải tự lực cánh sinh. Thế nhưng, từ trước đến nay chỉ biết đi xin, bây giờ phải làm gì để giải quyết vấn đề cơm áo? Đi buôn bán lại không có vốn? Rốt cuộc, nó cũng tìm được lời giải là đem một ít tiền mà nó đã dành dụm được xưa nay, mua hai thùng đựng nước, rồi đi gánh nước mướn để làm mưu kế sinh nhai. Hồi đó chưa có nước máy, những gia đình khá giả đều gọi người giao nước đến nhà họ mỗi ngày. Từ Lương Tứ từ một đứa ăn mày đã trở thành người gánh nước mướn. VI/ Gọi giao nước, gặp người ơn. Lâm Đăng Chương sau khi ra khỏi ngục, được biết về việc vợ làm mất túi bạc, đứa bé ăn mày lượm được mà không tham, v.v… Ông ta cũng để ý tìm kiếm vị ân nhân này, thế nhưng, ngay cả tên họ cũng không biết. làm sao tìm được. Gia đình họ Lâm lúc đó trú tại vùng quê, không biết đứa trẻ ăn mày đó ở đâu, trong lòng lúc nào cũng tưởng nghĩ đến. Ba năm sau, tiệm bán đồ sắt của họ Lâm càng ngày càng phát đạt, thì lòng tưởng nghĩ đến ân nhân của họ càng lúc càng sâu đậm. Một hôm, nhà họ Lâm gọi Từ Lương Tứ gánh nước đem đến, Lâm Đăng Chương chưa từng gặp qua cháng Tứ, thành thử cũng không biết người gánh nước đến là ai. Thời đó, người nữ ít khi đi ra ngoài, mỗi khi có đàn ông đến nhà, bọn họ thường thường lánh mặt, cho nên mấy năm nay không tìm ra vị ân nhân. Cũng may, Từ Lương Tứ gánh nước đến nhà bếp, thì bà họ Lâm vô tình trong thấy, cảm thấy rất kinh ngạc. Người đàn ông này mặt mũi giống hệt người ơn của mình, không phải biết là nó không? Chắc chắn là không phải, bởi vì thằng bé đó là người què, không đi đứng bình thường được, còn người này tại sao lại giống hệt nó như vậy? Cả mấy ngày liền, bà ấy trong lòng nửa nghi nửa ngờ, không biết nghĩ sao, bèn đem sự việc ra nói với chồng: “Người thanh niên gánh nước này, mặt mày giống hệt vị ân nhân, không biết tại sao lại không què, mà lại có thể gánh nước. Ngày mai ông mời nó vào hỏi thăm tử tế, xem nó hồi trước làm nghề gì?” Hôm sau, khi Từ Lương Tứ gánh nước đến, ông Lâm đặc biệt mời nó ở lại dùng cơm, sau đó hỏi đến tên họ, trước khi làm nghề gánh nước mướn thì làm nghề gì? Còn họ hàng quyến thuộc nào không? Từ Lương Tứ cũng thành thật trả lời không chút dấu diếm: “Thật là hổ thẹn, trước đây ba năm, tôi không thể gánh nước, mà cũng không thể đi đứng, trong nhiều năm, tôi chỉ có thể lết trên mặt đất, lúc đó chỉ còn cách đi ăn mày mà sống. Năm đó, vào tiết Thanh minh, tôi trú tại miếu Địa Tạng, mộng thấy Bồ Tát Địa Tạng khiến hai con quỷ điều trị cho tôi, từ đó không còn tàn phế nữa, cho nên đi làm nghề gánh nước để sinh sống.” Lúc đó, bà Lâm từ trong phòng bước ra, nắm lấy tay chồng, hai ông bà quỳ xuống đất, miệng kêu: “Ân nhân, xin nhận một lạy.” Từ Lương Tứ không biết ất giáp gì, bèn hớt hãi đứng dậy thối lui, hai tay phất lia phất lịa. Sau khi nghe hai vợ chồng họ Lâm giải thích đầu đuôi câu chuyện, mới biết câu chuyện xảy ra vào tiết thanh minh ba năm về trước. Lúc ấy mới biết rằng nhờ mình đã làm một việc thiện nên đã cảm động Bồ tát Địa Tạng hiển linh đến trị liệu sự tàn phế, trong lòng vừa mừng vừa sợ. Mọi người đều cùng nhau ngồi xuống tâm sự về những việc đã xảy ra ba năm qua. Từ Lướng Tứ đứng dậy xin cáo từ, thế nhưng hai vợ chồng họ Lâm nhất định giữ anh ta lại. VII/ Lâm Đăng Chương Cảm Ân, Dự Mưu Báo Đáp Ông bà Lâm Đăng Chương thành khẩn nói với Từ Lương Tứ: “Ân nhân đã cứu mạng hai vợ chồng chúng tôi. Chúng tôi biết ân nhân không mong được báo ơn, thế nhưng, chúng tôi là người thọ ơn, không thể nào không thiết nghĩ rằng ân nhân là người bơ vơ, không có gia đình, mà cửa hàng chúng tôi đang cần người phụ giúp, chi bằng ân nhân hãy ở lại đây, chúng ta xem nhau là người nhà!” Từ đó, Từ Lương Tứ không còn đi gánh nước mướn nữa, mà ở lại trong tiệm bán đồ sắt giúp việc cho hai vợ chồng họ Lâm. Trong vòng mấy năm, ông bà Lâm không những buôn bán phát đạt mà còn mua thêm rất nhiều ruộng đất. Họ cũng nhiều lần muốn giúp cho Từ Lương Tứ lập gia thất, thế nhưng đều bị anh ấy từ chối. Ông Lâm biết họ Từ là người ngay thẳng, nói một không nói hai, thành thử để cho anh ta tự nhiên quyết định. Mấy năm sau, ông Lâm nhận được thư của ông chú từ Quảng Đông gửi qua, muốn ông ấy trở về cố hương kế thừa gia nghiệp. Hai vợ chồng ông Lâm quyết định trở về quê nhà, nhờ Từ Lương Tứ quản lý tất cả tài sản, không dám nói giao hẳn tài sản, để cho anh ấy tin rằng không bao lâu hai ông bà sẽ trở lại, nếu không Từ Lương Tứ sẽ không chấp nhận. Từ Lương Tứ một mực đợi hai vợ chồng ông Lâm trở lại, thế nhưng chẳng nghe thấy tin tức gì cả. Sau đó nhiều năm, nhận được một phong thư của ông Lâm gửi sang, nói rõ tâm ý của hai ông bà là giao hẳn tài sản cho Lương Tứ, và khuyên anh ta sớm thành lập gia thất. Thế nhưng, Từ Lương Tứ vẫn ở độc thân như thế đến trọn đời. Anh ta tự xem mình là một người giúp việc thay mặt họ Lâm quản lý mọi việc. Cuối cùng, trước khi mất, Từ Lương Tứ làm di chúc đem hết tài sản cúng dường cho miếu Thổ địa, cảm tạ lúc bần hàn đã nhiều năm trú ngụ tại nơi này. Lúc Từ Lương Tứ còn sống, mỗi ngày mồng một, ngày rằm đều đến miếu Địa Tạng cảm tạ đức Bồ Tát đã cứu liệu sự tàn tật của mình. Nghe nói sau khi Lương Tứ mất, ông đã giao sáu mươi mốt mẫu đất cho chánh phủ địa phương quản lý. Theo bodetam.org
__________________
Hãy cho lòng mở rộng ra, Thương yêu tất cả như hòa hư không. Đừng mến tiếc, hãy thong dong, Bỏ qua tất cả cõi lòng thảnh thơi. thay đổi nội dung bởi: Charlie's Angel, 10-31-2009 lúc 09:27 AM. |
|
|
|
|
|
#5 |
|
Cám ơn: 2
Được Thank 12 lần ở 9 bài viết
|
Những Câu Chuyện Linh Ứng Về Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát Qua đó cũng thấy được người dân Nhật Bản có lòng tin và sùng bái ngài Địa Tạng ( Jizo) ra sao. Dưới đây là 1 câu chuyện nằm trong các tập sách này, post lên để mọi người cùng đọc: ![]() Nếu ai phát tâm in những cuốn sách này ra cho mọi người cùng đọc thì có phước lớn dữ lém à…hihi ![]() BỊNH THẦN KINH LÀNH VÀ ĐỨA CHÁU CÓ THÀNH TÍCH TỐT ( Chuyện của người đàn bà tên H. 73 tuổi, ở phố Tân Thị, thuộc quận Hộ Phẩm và huyện Quảng Đảo, Hiroshima, Nhật Bản) Đức Địa Tạng được đào lên tại phố Fuchù đương thời đã được nghe qua. Nguyên gia đình này theo Tông chỉ của Chơn Ngôn Tông và đã được quy y với Đại sư, đã đi tuần du từ Tứ Quốc Linh Trường đến Thần Đảo mấy lần như thế. Trong giấc mộng đã được cho biết về sự xuất hiện của Đức Địa Tạng này, nên rất phấn khởi và cùng với đứa cháu thường dẫn theo vào ngày chủ nhật để đi tham bái . Với tôi, từ trước đã bị bịnh thần kinh nhẹ và đã nhờ bác sĩ chữa, cũng chẳng phải là bịnh nghiêm trọng lắm. Vào ngày 23 tháng 8 năm này tự nhiên chỗ lưng bên phải đau quá thì đã được chữa rồi, nhưng bây giờ lại đau phía bên trái. Khi bắt đầu nghĩ là phải trị phía bên trái thì lại bị đau hơn. Khi đi vào nhà vệ sinh thì bước đi chẳng thể được, đau đớn khổ sở quá chừng, đã dự định đi bác sĩ nhưng liền nghĩ đến Đức Địa Tạng không có đầu, nên đến đó để cầu nguyện thử xem sao. Và liền đến ngay Đức Địa Tạng để cầu nguyện một cách chân thành:” Xin cho con bớt đau chân đi” một lòng cầu khẩn như thế. Sau khi lễ bái Đức Địa Tạng rồi trở về nhà và lúc đi vào nhà vệ sinh cho đến bây giờ thật chẳng còn đau nữa và có cảm giác thật an lành. Có cảm tưởng như là sự đau đớn ấy không còn lại nơi nào trên thân thể cả. Thật là ngạc nhiên hết sức. Việc này chẳng phải là bất khả tư nghì sao? Tiếp theo đó cũng chẳng đi bác sĩ nữa. Bởi vì Ngài đã nghe sự cầu nguyện chân thành của tôi, nên mỗi ngày ở nhà khi lễ bái tôi đều cầu nguyện Đức Địa Tạng. Tôi có hai đứa cháu kêu bằng Bà, là con của trưởng nữ K đang học tiểu học năm thứ 5 và con của Thứ nữ H đang học tiểu học năm thứ 4. Cả hai cháu này, mỗi tháng một lần tôi dẫn theo để đi tham bái Đức Địa Tạng, các cháu mổi sáng cũng đều chắp tay lễ bái Đức Địa Tạng để cầu nguyện. Nhờ sự gia hộ của Ngài mà cả hai đều chẳng bịnh tật chi, lại còn mạnh khỏe nữa. Khi nhìn vào Học bạ của nhà trường thấy càng ngày càng tiến bộ. Các cháu cũng cảm thấy rất gần gũi với Đức Địa Tạng. Lúc nghỉ hè, lúc đi tham bái, cả hai cháu đều dùng giấy để vẽ hình Ngài Địa Tạng và dâng lên cúng dường rồi về nhà. Ngoài ra, còn dùng đất sét để nắn hình Ngài Địa Tạng và để trên bàn. Trước khi học, các cháu hầu như đều chắp hai tay lại để cầu nguyện cho việc học hành của mình. Có lúc con gái của trưởng nữ K có thành tích tốt tại trường nên đã nhận được phần thưởng và bảng khen đem về treo tại nhà. Từ đó về sau, mỗi lần cầu nguyện được lợi ích gì đều nhờ sự gia bị của Ngài cả. Ngài Địa Tạng, thật ra chúng con thành thật cảm ơn Ngài. Kính nguyện, Ngày 30 tháng 10 năm Chiêu Hòa thứ 52 (1977) ------------------ Sa Môn Thích Như Điển Phương trượng Chùa Viên Giác Hannover - Đức Quốc dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Việt Đọc đầy đủ các chuyện: [Bạn phải đăng kí mới thấy được link này ] Theo quangduc.com thay đổi nội dung bởi: snoring, 10-31-2009 lúc 11:36 AM. Lý do: Automerged Doublepost |
|
|
|
| The Following User Says Thank You to snoring For This Useful Post: | Lữ Bố (10-31-2009) |
|
|
#6 |
|
Cám ơn: 1
Được Thank 12 lần ở 11 bài viết
|
Ai mà phát nguyện công đức in 3 cuốn sách về Địa Tạng này ra cho mọi người đọc
thì công đức vô lượng vô biên… mai mốt lấy dzợ đẹp đóngài Địa Tạng - hay còn gọi là Dizang - hoặc ksitigarbha - jizo ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() ![]()
__________________
Ai cũng phải chết, bít vậy để sống cho tốt hơn
thay đổi nội dung bởi: Lữ Bố, 10-31-2009 lúc 02:37 PM. Lý do: Automerged Doublepost |
|
|
|
|
|
#7 |
|
Cám ơn: 4
Được Thank 2 lần ở 2 bài viết
|
Hì hì phải chi mai mốt lơn rùi tui đi làm có tiền thì mới rủ mọi người hùn in mấy cuốn sách này
|
|
|
|
|
|
#8 | ||||||||||||
|
Cám ơn: 1
Được Thank 5 lần ở 4 bài viết
|
SƠ LƯỢC TIỂU SỬ THÁNH TƯỢNG ĐỨC ĐỊA TẠNG BỒ TÁT (ÔNG PHẬT ĐEN HAY ÔNG ĐỊA TẠNG ĐEN) TẠI QUAN ÂM TU VIỆN – BIÊN HÒA &&&
![]() Cổng Tam Quan - Quan Âm Tu Viện Nghĩa trang Đô Thành nơi được an nghỉ của những người có chức vụ cao ở quân đội cũ. Bên trong có “nhà xác” rất lớn. Tết Mậu Thân, 1968 cái tết để ghi dấu ấn mỗi khi xuân về. Sau trận chiến tranh năm ấy, xác chết của 2 bên (bộ đội Cách mạng và lính Sài gòn) không có người thâu nhận về. Chính quyền cũ cho móc một hố sâu đem chôn tập thể. Mùi hôi thúi xông lên cả khu vực xứ Bắc Hải. Rồi từ đó linh hồn, những âm hồn bị chết vì chiến tranh, người thì hiện hình khóc than, người thì hay hiện hình ra đứng ngoài đường Lê Văn Duyệt cũ (nay là đường Cách mạng tháng Tám) bán bánh dò bánh chưng dẫn người vào mộ… Tới sáng mới hay người bị “ma dẫn”. Từ đó dân khu vực và người đi qua lại về khuya rất lo sợ. Thấy sự việc như vậy “Hội Phật Tử Long hoa” chi nhánh của “Hội Phật Giáo Bắc Việt” do Chị Nga (nay đã qua đời) làm Hội Trưởng mở ra cái Am nhỏ để thờ cúng, tụng kinh…nhưng rồi cũng không công hiệu. Hội mới xây dựng Chùa ở cổng vào nghĩa trang, do Chị Nga lãnh đạo có Bà quản tự trông nom hương khói cho ngôi Tam Bảo. Khi đào đất lên gặp tấm bia đá lớn đề “Lã Đại Tướng Quân đời Trần”. Về sau Ông có nhập vào xác một “bà đồng” ở trong Chùa và bảo làm tượng thờ Ông. Khi lập Chùa, bên trong chánh điện có tôn trí thờ : 1/. Tượng cốt Phật Thích Ca cao 01,40 mét 2/. Tượng cốt Phật A Di Đà (đứng) cao 01.50 mét 3/. Tượng cốt Bồ Tát Quan Âm (đứng) cao 01,30 mét 4/. Tượng cốt Bồ Tát Đại Thế Chí (đứng) cao 01,30 mét 5/. Tượng cốt Bồ Tát Địa Tạng (đứng) cao 01,40 mét 6/. Tượng cốt Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma (đứng) cao 01,30 mét 7/. Tượng cốt Ông Lã Đại Tướng Quân (ngồi) cao 01,45 mét,ngang 0,45 mét Thế rồi sự việc xây Chùa cũng không đi đến kết quả gì. Ở Chùa chỉ có Bà Quản tự lo hương khói cho Phật. Đêm đến Bà thấy có “Ông Đen” từ đầu đến chân tự xưng là “Địa Tạng”, Ngài bảo đắp tượng Ngài đem để thờ ở ngoài sẽ hết. Sáng sớm, Bà Quản Tự đem sự việc học lại cho Hội, Hội bảo : “Bà nói nhảm” làm gì có “Ông Phật Đen”, Bà bày chuyện… Thế rồi, cứ ròng rã ba đêm như thế, mà vẫn thấy hoài, Bà Quản Tự sợ quá đòi bỏ Chùa đi. Người trong Hội Long Hoa bắt đầu suy nghĩ và tìm người để đắp tượng. Họ mời Ông Mai Lân, nhà Điêu khắc sư là nhà điêu khắc nổi tiếng. Khi quý Ông, quý Bà Phật Tử đến tìm Ông Mai Lân (nhà điêu khắc Thế Hệ ở đường Phan Thanh Giản cũ) Ông cũng nói như vậy. Tôi đang chờ quý vị đến. Ông Đen còn cho biết bề cao là 03,35 mét, ngang vay 0,75 mét, đế cao 3 mét, vòng tròn 04,10 mét. Tới đó, mọi người mới tin là sự thật. Thế là Hội Long Hoa bắt đầu đắp tượng Ông Phật Đen (Đức Địa Tạng), công việc bắt đầu từ năm 1971, việc đắp tượng có 6 vị. Ông Mai Lân cùng 05 Ông thợ nữa, đắp rồi hẹn 20 ngày sau ráp tượng. Đến ngày đem tượng ra ráp, ai cũng ngỡ ngàng vì tất cả không dính vào nhau. Ông Mai Lân kiểm tra người lại. Mới cho nghỉ một anh và đưa vào một anh thợ khác. Đắp lần 2, sau 20 ngày đem ra, ai cũng mừng rỡ. Vì pho tượng láng bóng như có ai mài “đen tuyền”. Hai con mắt Ông mua 2 hột ngọc ở ngoại quốc. Mọi người mừng rỡ như thấy trong mộng. Thế là thánh tượng được đem về nghĩa trang Đô Thành chọn 01 chổ ở giữa để Ông đứng. Tượng được xe cẩu đem về đặt trên đế tròn 04,10 mét, cao 03,00 mét. Chuyện lạ khi xe cẩu đưa Ông để lên đế, tượng tự xoay về chính hướng Đông mà đứng, không hề có ai di chuyển. Cụm từ “Ông Phật Đen” có từ đây. Từ khi thánh tượng “Ông Phật Đen” về đứng ở nghĩa trang Đô Thành, mọi chuyện về phần âm quấy rầy đều êm lặng (mọi việc ghi trên do Bà Quản Tự, Ông Mai Lân kể) và lúc bấy giờ Ông Mai Lân còn tặng cho tôi (Cô Mười Diệu Ngọc) 01 tượng Phật Thích Ca và Ông Di Lặc hóa hải mà Ông đang thờ bằng thạch cao, đem về nhà tôi thờ, hiện nay vẫn còn. Thánh tượng “Ông Phật Đen” cũng gọi “Ông Địa Tạng Đen” có mặt ở dương thế từ năm 1971, bằng đá Itali, do điêu khắc sư Mai Lân mộng thấy và tạc thánh tượng y khuôn như trong mộng. Thời gian trôi đi, cho đến ngày hòa bình, 30.04.1975, rồi từ việc tự hốt cốt thân nhân, hoặc do giải tỏa mà hốt cốt đưa vào thờ trong các Chùa. Rồi đến việc giải tỏa nghĩa trang Đô Thành (nghĩa trang Chí Hòa, còn gọi là nghĩa trang Quận 10), trong những năm 1984, 1985, 1986 huyền thoại về việc linh thiêng của “Ông Địa Tạng Đen” vang vọng khắp các Chùa ở Thành phố và Tăng Ni, Phật Tử đều biết. Nhiều Chùa xin thỉnh Ngài, nhưng Chính quyền thì cho, Mặt Trận tổ quốc thì không cho, cứ như thế bên được bên không và cuối cùng thì không cho phép đưa cốt tượng “Ông Địa Tạng Đen” về bất cứ ngôi chùa nào trong Thành phố. Rồi lại đem xe đến ủi, hoặc đập cho bể…nhưng tất cả mọi xe ủi đưa đến đều bị “chết máy”, không tới lui được ! Nhiều người bực mình lấy gạch, đá ném vào “Ông Địa Tạng Đen” khi về nhà đều bị bệnh…v.v.. Lúc bấy giờ, tôi là Phật Tử Diệu Ngọc, quy y tại Quan Âm Tu Viện – Biên Hòa vào năm 1967 là đệ tử của Hòa Thượng Tôn Sư thượng Thiện hạ Phước, biệt hiệu Đức Mẫu Trầu Bồng Lai và Sư Bà Huệ Giác (mọi người cũng gọi tôi là Cô Mười Solomon) tình cờ đi mua cây bên kia đường, đứng trên đống cây thật cao, thấy “Ông Địa Tạng Đen” tọa lạc sừng sững giữa khu đất trống gồ ghề và chỉ có mình Ông. Tôi buộc miệng nói : “có Ông gì mà đen trông rất tố hảo” Vài hôm sau tôi về Quan Âm Tu Viện, sáng sớm Sư Phụ ra (Sư Bà Huệ Giác), nói : hôm qua có ai nhắc Cô Mười không biết có việc gì đây? - cô Thái pháp danh Diệu Rạng liền ra quỳ nói :”con thưa việc Tôn Sư chỉ định Cô Mười thỉnh “Ông Địa Tạng Đen” ở Quận 10 đem về Tu Viện”. Câu chuyện như vầy :”cô Thái Phật Tử Quan Âm trình với Sư Phụ về việc Ông Địa Tạng Đen - Sư Phụ bảo :”Cô Thái phải về núi Dinh xin thỉnh ý của Đức Tôn Sư Mẫu Trầu” Cô Thái nghe lời Sư Phụ đi núi thỉnh ý, được Đức Tôn sư bảo : ”Sự việc nầy Cô Mười đen thỉnh được (Cô Mười đen hay Sơn mài) – đem về đặt ở giữa hai cây dương – Cô Thái trình với Sư Phụ - Sư Phụ ra lệnh Cô Mười Diệu Ngọc đi làm Phật sự thỉnh “Ông Địa Tạng Đen”. Khoảng năm 1980. Sư Bà Huệ Giác có xin Mẹ xây dựng cái cốc ở giữa hai cây dương để sớm chiều chư Tăng có dịp đến thăm hỏi và được chỉ dạy. Nhưng khi làm móng thì Đức Tôn Sư bảo ngưng lại để sau nầy có việc. Thì hôm nay Mẹ bảo tôn trí “Ông Địa Tạng Đen” ở chổ hai cây dương. Hai hôm sau, Sư Giác Quang làm văn bản xin phép Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và được Ông Chủ Tịch Tố Nguyên chấp thuận, được Bà Trần Thị Xuân Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân, Ông Đổ Văn Tất, Chủ tịch Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Phường Bửu Hòa ký chấp thuận ngày 14.08.1986 cho phép rước thánh tượng “Ông Địa Tạng Đen” về tôn trí trong khuôn viên danh lam Quan Âm Tu Viện (các văn bản hôm nay Sư Giác Quang vẫn còn lưu trữ tại Quan Âm Tu Viện) . Tôi đem toàn bộ giấy tờ đến Ủy Ban Nhân Dân Quận 10 và Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Quận 10 trình và được ký chấp thuận ngày 19.08.1986 giấy giới thiệu số 248/MT/GT,ngày 24.08.1986 để đưa tất cả 05 tượng Phật, gồm Di Đà, Quan Âm, Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma, Ông Lã Đại Tướng Quân và “Ông Địa Tạng Đen”, Ủy Ban Nhân Dân phường 25 ký chấp thuận ngày 23.08.1986. Quý vị còn bảo tôi phải qua trình Ban Đại Diện Phật Giáo Quận 10, Thầy Trụ trì Chùa Pháp Không (lúc bấy giờ gọi là Am Pháp Không)…tôi có đến trình, quý Chư Tôn Đức hoan hỷ chấp thuận. ![]() Pháp Tháp thờ Đức Phật A Di Đà ![]() Pháp Tháp thờ Đức Địa Tạng Đen
![]() Pháp Tháp thờ Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma ![]() Pháp Tháp thờ Đức Thiên Thủ Thiên Nhãn
![]() Lã Đại Tướng Quân Đời Trần Tôi lại về Quan Âm Tu Viện xin thỉnh ý Sư Phụ một lần nữa, bao giờ mới thỉnh tượng Ngài về ? - Sư Phụ Bảo : Ngày 19/07 Bính Dần (24.08.1986) đem về – hôm nay là ngày 17/07 âl (22.08.1986), chỉ còn có 2 ngày nữa. Chiều ngày 18/07 Bính Dần (23.08.1986) lúc 15 giờ tôi chở cây ván 7x14, chạy lên Hóc Môn vận động chú Nguyễn Văn Đức và 5 Ông thợ hồ ở Hóc Môn, mỗi người cầm một cái búa, cái đục, đến tối tập trung mới đủ. Tôi lên nhang đèn, bông hoa dâng cúng Ngài, tụng kinh Phổ Môn – Đại Bi sáng đêm, khi nhìn ra phía sau lưng cả trăm người vừa khóc vừa lạy. Tôi nghe não lòng, trong bóng đêm chỉ có một đèn dầu tôi dùng để tụng kinh. Bốn giờ sáng, chúng tôi khởi đục từ đài sen xuống 01,50 mét. Vòng tròn đế 04,10 mét để làm chuẩn. Khi đục, hởi ôi ! đục nháng lửa mà không thấm vào đâu cả. Sáu anh thợ hồ đổ mồ hôi nhễ nhạy. Riêng tôi thấy lo quá, đục không vào sâu được, trời càng sáng, người càng đông toàn là phản đối, không ai ủng hộ cả. Nhất là Phật Tử Chùa Pháp Không, Hội Long Hoa, Phân Hội Từ Hoa. Mãi đến 08 giờ sáng mới thấy được cây sắt bên trong. Tôi lo và khóc, lúc nầy 04 đứa con của tôi : Đổ Thị Đan Thanh, Đổ Thanh Tịnh (bộ đội), Đổ An Lạc (bộ đội), Nguyễn Đức Nghĩa, 2 đứa làm bộ đội, đến và dẫn theo trên 10 cháu bộ đội bạn đến đục phụ, đục mãi mà chưa thấy cây sắt bao lớn. Ủy Ban Mặt trận Tổ Quốc Quận 10 hứa cho mượn 2 sợi dây thừng dài 30 mét và 1 xe cần cẩu lớn, 1 xe cần cẩu nhỏ. Nhưng chờ mãi cũng không thấy. Đến 10 giờ, Mặt Trận Tổ Quốc trả lời không có vì chủ xe sợ không dám đến. Tôi khóc nhìn chung quanh chỉ có 04 đứa con tôi, mấy chú bộ đội và 6 ông thợ hồ quen. Thế rồi nhờ chư Thiên ủng hộ, cháu Hiển ở cạnh nhà tôi làm lơ xe đến, bảo tôi : Cô Mười về đi, Cô đụng tới “Ông Phật Đen” nầy chết bỏ 4 đứa nhỏ ai nuôi. Tôi càng tủi thân và bảo nó đi tìm 2 xe cần cẩu : 1 lớn, 1 nhỏ, 2 dây thừng dẹp và con lấy xe thùng của bố con rửa sạch đem lại cho Cô. Cháu Hiển đi 2 tiếng đồng hồ sau, điện thoại vô nhà gần đó nói nhu cầu của tôi có đủ. Nó đem xe thùng đến, tôi bảo con tôi kêu xe ba bánh chở hết nệm gối nhà mình đem lại để lên xe anh Hiển, để chở tất cả các vị Phật về Quan Âm Tu Viện trước. Tôi có yêu cầu quý Bà Phật Tử đi theo ôm tượng Phật, nhất là tượng Phật Thích Ca ngồi. Riêng Tổ sư Đạt Ma, Ông Hoán cho xe lam chở về Ông làm hư bể ở phần bụng và mấy tháng sau Ông phát bệnh qua đời. Khi xe chở tượng Phật về Quan Âm Tu Viện, lúc trở về, như có phép mầu, quý bà lo nước uống, kêu gọi các anh em Phật Tử và nhân dân thay phiên nhau đục, lúc nầy không còn bị cản trở nữa. Tôi thấy vui và hết khóc, quyết tâm vượt qua. Khi ấy mới lộ ra cây sắt tròn đầu tiên 28 mm, lúc đó mọi người đem búa đục ở nhà đến cùng nhau đục. Mấy vị thợ hồ của tôi lo đóng thùng bằng cây. Trời âm u mây che phủ nắng, thỉnh thoảng lác đát mưa rơi, như làm cho mát dịu tâm hồn mỗi người hiện diện. Trong không gian như có người đông, vô số kể phần âm, lúc bấy giờ dân địa phương và Phật Tử ở Chùa ra phụ làm hàng rào và phụ lực đục khối bê tông quá cứng và sau đó lòi ra được 62 cây sắt tròn. Cháu Triệu Văn Hiển trở lại với 2 xe cần cẩu và 3 sợi dây thừng dẹp, mọi việc biến chuyển tôi không ngờ. Chung quanh tôi không thấy bóng Phật Tử của Quan Âm Tu Viện tiếp viện phụ giúp một việc gì ! chỉ có các tài xế lơ xe cùng phụ. Lúc nầy tôi đã cười, các con tôi không còn sợ Mẹ chết nữa : “các cháu nói, con tưởng Ông Phật nhỏ, ngờ đâu thánh tượng “Ông Phật Đen” ngó ra sau hết ót mới nhìn thấy ! (tức là Ông Phật Đen lớn cao quá). Chính quyền, Công an, Mặt Trận lúc này lại đến giúp hổ trợ tinh thần chúng tôi, giữ gìn an ninh và giúp đỡ bảo vệ tôi vô cùng. Tới 17 giờ tôi kêu con tôi đi kêu 2 chay gió đá lớn, để chờ cắt sắt. Với sự kinh nghiệm của người điều khiển 2 cần cẩu, họ đã chàng dây và buộc “Ông Phật Đen” lại. Đến khi thợ thổi gió đá cắt sắt tôi quá lo, sợ ngã “Ông Phật Đen”. Xe cần cẩu lớn giữ chân đế, xe cần cẩu nhỏ giữ đầu và mình Ông lại. Đến khi cắt xong, đỡ Ông lên, trời ơi cây rớt ngổn ngang chỉ còn mình Ông mà Ông xoay tròn. Sau cùng để Ông nằm, đầu day ở phía tài xế. Nhưng đế nặng quá muốn lật xe. Lại một lần nữa chúng tôi hết hồn khi đưa Ông đứng lên day đầu ra phía sau. Cả 2 xe cần cẩu muốn lật hết. Bây giờ thì Ông nằm yên đầu day về phía sau xe. Có rất nhiều anh em ở chung quanh đứng bảo bọc đầu Ông Phật, sợ có người lén đập phá ! Khi bắt đầu khép bững, 2 bên xe lớn pha đèn, cho xe nhỏ lăn bánh đi ra đường lớn, có rất nhiều người đi trước hướng dẫn, lấy đồ vật kê bánh cho xe qua những hố mộ đã đào, bỏ bừa bãi làm lún bánh xe. Xe chạy rất chậm, nhiều lúc Ông Phật bị tròng trành, muốn lật qua một bên. Nhưng rồi Ông Phật được đưa ra tới đường Lê Văn Duyệt thì ngừng lại, mọi người kiểm tra dây thừng và bánh xe. Tôi và cháu Đức đứng trên xe cả thảy 5 người, riêng chú Thọ thì về, các con tôi về, lúc xe lăn bánh đúng 19 giờ 40. Rất nhiều xe chạy từ từ ở phía sau xe chở “Ông Phật Đen”, có trên 100 xe 2 bánh, 4 bánh lớn nhỏ đưa Phật hướng về ngôi danh lam thắng cảnh Quan Âm Tu Viện – Biên Hòa. Trong không trung, không biết bao nhiêu tiến rầm rộ của phần âm chất, những linh hồn nhẹ thoảng bước theo “Ông Phật Đen”, dưới bầu trời trong đêm đen nhưng thật trong sáng, gió càng lọng, đong đưa làm cho khí tiết giờ nầy thật mát mẻ, xe chạy càng xa, các lọai xe 2 bánh giảm dần… Về tới ngã tư Xuân Hiệp, dốc Linh xuân, Thủ đức, vì đường nghiêng, Ông Phật cũng nghiêng, tôi sợ quá, tưởng lật xe. Qua đoạn dốc đường nghiêng, tứ bề yên tĩnh, tôi nhìn lên thấy trăng mọc, xem đồng hồ đã hơn 22 giờ. Đến Quan Âm Tu Viện, nơi tôn trí thánh tượng, mới hay Đức Tôn Sư ở núi bệnh nặng, quý Sư lo đem Đức Tôn Sư xuống bệnh viện Nguyễn Trãi, nên Sư Phụ và mọi người đều phải theo xuống bệnh viện xem sao… không còn tâm trạng nào nữa để phụ lực đem “Ông Phật Đen” về Tu Viện. Thật vậy, Tôi nghĩ khi về tới Quan Âm Tu Viện sẽ được vui mừng, nào ngờ mọi bề im lìm lắm. Có lẽ thời điểm nầy Giáo hội PGVN đang phát động “Phong trào phát triển kinh tế nhà chùa” nên chư Tăng Ni trong Tu Viện đa phần đi lao động tăng gia sản xuất “trồng cây gây rừng” tại xã Long Phước, Phước Thái (Long Thành), số còn lại ở Tu Viện rất ít và vì mọi người đều bận rộn việc Đức Tôn Sư lâm trọng bệnh, nên việc tiếp rước “Ông Phật Đen” thật đơn giản. Mặt khác, Thánh tượng “Ông Phật Đen” do nặng quá, không ai có sức mạnh, có thể kham nổi việc xây trở đưa liền thánh tượng lên vị trí. Do đó khi về tới nơi vẫn để nguyện trạng Ngài nằm trên xe cần cẩu cho đến sáng hôm sau. Sáng lại, ngày 20/07 Bính Dần (25.08.1986), thánh tượng còn đang nằm trên xe , cùng với quý Sư Thiện Đức, Sư Giác Quang, Sư Thiện Trung, Sư Thiện Nghĩa, Sư Thiện Tâm, Thầy Châu (từ rẫy về), Thầy Thiện Cang những vị có trách nhiệm trong Ban trang nghiêm trùng tu Quan Âm Tu Viện, kết họp một số Phật Tử Thiện Cần (Anh Tư Kiệm và gia đình), Anh Út Thuận (Tân Bản), Ông Tư Campuchia và con cháu (dốc chú Quả) giúp đỡ ý kiến, mướn thêm 01 xe cần cẩu và bá-lan ở địa phương cùng với chư Tăng, Phật Tử Tu Viện chung sức đưa thánh tượng đứng lên trên bục đế đã có thiết kế sẳn thật chắc chắn bằng bê tông cốt thép, nơi vị trí thánh tượng đứng vững vàng cho đến hôm nay. Nói về bát nhang lớn, thì trước đó vào tối 19/07 Bính Dần tôi có nhờ xe cẩu lớn dở bát nhang chôn sâu khoảng 20 cm, dưới đế toàn là bê tông và di dời một đoạn qua khỏi các hố cốt, để đến sáng 20/07 âm lịch tôi cho đưa lên xe vào dễ dàng. Bát nhang nặng khoảng 350 kg. Nên sáng ngày 20/07 âm lịch tôi rời Quan Âm Tu Viện về ngay nghĩa trang Đô thành. Tôi thấy bát nhang khói bay nghi ngút, bà con Phật Tử lạy dưới đất, làm tôi rất xúc động. Tôi liền đi lên ngã ba Bà Quẹo mướn một xe lam chở bát nhang. Nhưng không vừa, nên phải mướn chiếc Daihasu để bát nhang mới vào. Tôi trở lại nghĩa trang Đô Thành, các cháu nhỏ bao quanh, khoảng 100 em, tôi chọn 9 em. Tâm tôi cầu nguyện cho các cháu giúp bê bát nhang lên được ! - Y như ý tôi muốn, bát nhang được đưa lên xe dễ dàng và tôi chở về Quan Âm Tu Viện. Quý Sư hổ trợ đưa bát nhang xuống và tôi thấy thánh tượng “Ông Phật Đen” đang được bá-lan kiềm giữ cho đứng thẳng thật vững vàng cho đến vài ngày sau khi xi măng được khô cứng. Rồi từ đó…cho đến 29 tháng 07, Bính Dần (03.09.1986) Đức Tôn Sư trở về Quan Âm Tu Viện lần sau cùng lúc 21 giờ 40, cũng có tôi từ bệnh viện Nguyễn Trãi cùng với quý Sư và một số Phật Tử đưa về. Sau vài tiếng đồng hồ, Đức Tôn Sư đã mãn nguyện độ sanh, Ngài làm tròn vị Sứ giả Đức Như Lai, làm tròn hạnh nguyện làm con Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát 72 triệu ức nghìn thu, Ngài ra đi mãi, không trở lại với những đứa con ở trên đời gặp lắm nhiều chông gai gian khổ. Tôi nhìn trời mây giữa đêm đen, cất tiếng gọi Mẹ ơi, Mẹ ơi với đôi dòng lệ âm thầm lăn xuống ! Ba năm sau ngày Đức Tôn Sư viên tịch, theo lệnh của Sư Bà Huệ Giác, tôi tiếp tục ủng hộ cho quý Sư Thiện Nhựt, Thầy Châu, Thầy Thiện Minh (hoa văn), Thầy Thiện Cang, Phật Tử Kim Chi và đông đảo Phật Tử tiếp tục lãnh nhiệm vụ đứng ra xây pháp tháp 4 mái, cấu trúc hoa văn rồng mây theo phong cách tôn giáo phương Đông và Tây Nam bộ, qua sự thiết kế của Sư Bà Huệ Giác thật đẹp đẽ, xứng đáng với thánh tượng “Ông Phật Đen”, xứng đáng đáp ứng nhu cầu công lao khó nhọc của tôi, các con tôi, cùng với sự góp phần của một số đạo tâm nam nữ Phật tử ở Thành Phố Hồ Chí Minh, Hội Phật Giáo Bắc Việt, Hội Phật Tử Long Hoa, Chùa Pháp Không và Phân hội Từ Hoa. Hằng năm, trước lễ Vu Lan tháng Bảy, tôi có nhờ Sư Thiện Nhựt, hoặc cho các con tôi về Quan Âm Tu Viện để quét sạch bụi, sơn phết, tôn tạo cho mới lại thánh tượng, để cúng rằm, rước vía Địa Tạng vào ngày 30/07 âm lịch và cũng là những ngày cúng húy kỵ Đức Tôn Sư Hòa Thượng thượng Thiện hạ Phước và theo tôi được biết thì năm nay sẽ tổ chức lễ húy kỵ Đức Tôn Sư vào các ngày 27,28,29,30/07 và mùng 01/08 âm lịch năm Kỷ Sửu. Đây là sơ lược hồi ký việc làm của Cô Mười đen hay Cô Mười Sơn mài, pháp danh Diệu Ngọc. Viết ít sự thật còn nhiều hơn nữa.
![]() Bửu Tháp thờ Đức Tôn Sư Hòa Thượng thượng Thiện hạ Phước
![]() Tháp thờ Hòa Thượng thượng Thiện hạ Chơn ![]() Tháp thờ Hòa Thượng thượng Giác hạ Châu Phật tử Võ Thị Mười, pháp danh Diệu Ngọc Viết ngày mùng 01/07 Kỷ Sửu, tức ngày 20/08/2009 đến ngày 04/07 Kỷ Sửu, tức ngày 23/08/2009 nguồn: [Bạn phải đăng kí mới thấy được link này ] |
||||||||||||
|
|
|
|
|
#9 |
|
Cám ơn: 0
Thanked 1 Time in 1 Post
|
Cái nài em copy bên trang lien-hoa.net:
[Bạn phải đăng kí mới thấy được link này ] Những Câu Chuyện Linh Ứng Về Đức Đại Tạng Vương Bồ Tát Sa Môn Thích Như Điển Phương Trượng chùa Viên Giác Hannover Đức quốc dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Việt I.Chương Một I.1Câu Chuyện Một Cái Chân Bị Đau Nhứt. Chuyện của người đàn ông tên K 71 tuổi ở phố Fuchuu thuộc huyện Hiroshima – Nhật Bản. Từ một năm trước đây hai bắp chân của tôi nước bắt đầu đọng lại và đã nhờ chữa ba bốn lần rồi. Khi đi có cảm giác như kim châm bị đau thốn. Nương vào phương tiện chiếc xe đẩy để bước đi; nhưng khi muốn ngồi, cái chân như quẹo lại và đau nhứt vô cùng. Khi đi tham dự những lễ nghi của người thân mất cũng cảm thấu xấu hổ khi nói về chuyện nầy. Trước Điện Phật hai chân đưa ra đại như thế. Khi tối đến thì khổ sở hơn. Sự khổ sở ấy hằng ngày bắt đầu tiếp theo mãi cho đến giữa đêm mới chợp mắt được. Đã bao lần nhờ cậy vào Bác Sĩ; nhưng cũng chỉ được định bệnh là do gân của chân bị co rút chứ không có gì khác. Đi đến Thần Cung để cúng bái, lên xuống các thang cấp bằng đá phải nói là khó khăn. Khi lên chẳng khác nào như người có thai; thật là khó nói vô cùng. Khoảng ngày 20 tháng 6 năm Chiêu Hòa thứ 52, ở trước vườn nhà có một quán làm nghề đập đinh và người đàn bà ấy cho biết rằng gần đây có một nơi đã đào được Đức Địa Tạng và đang làm lễ, khuyên tôi hôm nay nên cùng đi đến đó để lễ bái. Tôi chẳng hiểu là nơi đó có Đức Địa Tạng, nên cũng bán tín bán nghi, mà câu chuyện Đức Địa Tạng lại bất khả tư nghị; nên cứ như vậy mà đi lên trên một ngọn đồi có nhiều người ở, nằm phía Đông của Hồ Đinh thuộc phố Fuchuu. Ở đó có một tượng Đức Địa Tạng nhỏ bằng đá bị sứt đầu và theo con đường làng đi hôm đó cũng có 4, 5 người cùng đi tham bái. Bà già cùng đi theo cũng chẳng nói cho biết là sẽ nhờ Đức Địa Tạng bằng đá kia được cái gì, việc ấy chẳng quan tâm, liền đi đến. Khi buổi lễ xong được nhận 3 cốc rượu và nốc cạn rồi đi xuống đồi. Với cái chân như thế ghé vào quán rượu uống thêm một ly nữa và đi đến quán rượu khác uống thêm một ly nữa. Tổng cộng là 5 ly đã uống và đêm đó đã đau nhức khổ sở vô cùng. Tiếp đó là máu chảy ra. Lẽ ra thì phải dừng việc uống rượu nơi Đức Địa Tạng, mà ở đây còn uống thêm nữa; nên có lẽ bị phạt và sau đó thì hối hận. Tự nhiêu việc bất khả tư nghì là máu kia không dừng lại, suy nghĩ có lẽ tại rượu chăng? Hay vì uống rượu quá nhiều nên cả tuần lễ không có ngày nào là máu không chảy ra. Tôi nghĩ lại, đó là câu chuyện tuyệt vời đã xảy ra trong những đêm ấy. Sau việc ấy dẫu bận đến đâu, tôi vẫn đi tham lễ Đức Địa Tạng. Khi sớm là lúc 4 giờ vào buổi sáng và khi mưa gió cũng không bỏ sự tham lễ cũng như đọc Kinh. Ngay nơi ngang qua Đức Địa Tạng ấy, chẳng thấy xây dựng một cái gì cả và thấy chỗ ngồi nghỉ chân cũng không có nên muốn nai lưng ra làm một chỗ như thế. Tất cả mọi người ai cũng thấy vui, khi thấy người bị đau chân mà còn cố gắng làm được như thế, đồng thời làm một chỗ thờ tự để cúng dường. Vào ngày mồng một tháng bảy thì chân bắt đầu ít đau. Lúc ấy nhà tôi đã đi Osaka, vào buổi tối chỉ một mình ngồi tại nhà thì tự nhiên bẻ cái chân cong lại được, chẳng còn đau đớn gì cả. Thật là bất khả tư nghì. Cũng với việc vui mừng to lớn ấy tôi lại đi đến Ngài. Thật ra đây chính là nhờ vào lòng tin và sự gia hộ của Đức Địa Tạng chứ ngoài ra không có gì hết cả, nên rất vui mừng. Cả một thời gian dài đau khổ về hai cái chân như thế mà bây giờ đã sạch hết bệnh thì phải nói rằng chẳng phải sự thật ở đâu cả, mà chính nơi đây đã hiển bày sự thật. Rồi một lòng đi tham bái liên tiếp 10 ngày như thế. Thật là chuyện bất khả tư nghì chẳng thể nói hết được. Đến ngày 20 tháng 7 đi câu cá tại sông Arada và hai chân lội vào nước; nhưng đã chẳng có chuyện gì xảy ra, mà sự khổ não về bệnh hoạn ấy chưa bao giờ tưởng tượng được rằng có một ngày mau lành như thế. Thật ra chuyện nầy trông như là chuyện giỡn chơi và từ đó không cần dùng đến xe đẩy nữa. Mỗi ngày khi tham lễ Đức Địa Tạng đều lên xuống bình thường. Sau đó thì bị đau răng và răng nầy cũng bớt đau khi nhứt tâm tụng Kinh Địa Tạng Bồ Tát và sau 5, 6 ngày thì hoàn toàn không còn đau nữa. Đây chình là nhờ sự gia hộ vậy. Để cung kính Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát, từ tâm nầy xin đảnh lễ và dẫu cho đến bao giờ, con vẫn kính ngưỡng phụng trì công đức nầy của Ngài. Nam Mô Đại Địa Tạng Bồ Tát Nam Mô Đại Địa Tạng Bồ Tát Kính lễ Ngày 15 tháng 9 năm Chiêu Hòa thứ 52 I.2Câu Chuyện Thứ Hai Chữa Lành Bệnh Đau Đầu Người đàn bà tên S 44 tuổi tại phố Okayama. Câu chuyện bắt đầu vào tháng 5 của năm nầy. Đầu đau thật nguy kịch. Nửa đầu phía sau đau nhức chưa bao giờ dừng. Cứ nghĩ rằng chẳng bao lâu sẽ hết; nhưng thực ra không phải vậy. Đến Bác Sĩ để chăm sóc và được cho biết đây là bệnh không điều hòa của thần kinh. Lúc đầu đau một cách kịch liệt, khi đi trên đường có cảm giác quay mòng mòng. Đối với bệnh nầy phải làm sao cho hết; nên cả hơn nửa tháng tôi đã đi châm cứu thử xem; nhưng đã chẳng hết và khi nghe nơi nào có chỗ chẩn đoán hay phương pháp trị liệu thì cũng đi xem thử và cũng được mọi người cho biết về sự tham bái Đức Địa Tạng ở Okayama có hiệu nghiệm, nên cũng đến đó thử xem. Tuy rằng cũng đã đến những Tôn Giáo khác; nhưng bệnh đau đầu vẫn không hết. Lúc ấy tại Fuchuu mới đào được tượng Đức Địa Tạng không có đầu và được truyền tụng rằng sau khi đào được rồi thì Ngài đã chữa cho nhiều bệnh và qua Đức Địa Tạng này có thể chữa lành bệnh chăng thì chưa rõ. nên vào ngày mồng 3 tháng 7 năm Chiêu Hòa thứ 52 đã tìm đến Đức Địa Tạng không có đầu ở phố Fuchu Đúng như báo chí đã tường thuật là có một tượng Đức Địa Tạng bằng đá nhỏ không đầu; nên đã nhứt tâm muốn lành bệnh và cầu nguyện, sau đó trở về. Câu chuyện được tiếp nối là tuy mỗi ngày đầu vẫn còn đau, nhưng trong một tuần có khoảng 2 ngày không bị đau; rồi dần lên nhiều ngày không đau. Rõ ràng là khi cầu nguyện, Đức Địa Tạng đã nghe sự cầu nguyện ấy và hãy tự tin thâm sâu hơn; mỗi tuần như thế, tôi đã đến đây 2 lần. Tôi cảm thấy sự đau đầu hầu như không còn nữa. Vào ngày 22 tháng 7 và chính ngày ấy là ngày lễ của Đức Địa Tạng, tôi đã đến đây lần thứ ba để tham bái. Chính ngay đêm ấy sự việc đã xảy ra mà cho đến nay đã dứt hẳn căn bệnh đau đầu. Điều nầy giống như trong Kinh Địa Tạng đã dạy cho người xưa rằng: “Nhờ ơn Ngài gia hộ.” Một lòng xướng lên nhiều lần như thế. Đoạn, đột nhiên trong đầu tôi kêu một cái “rầm” rồi vang lên sống động. Ở trong cảnh ấy; cơn đau như chỉ còn ngoài da, rồi bắt đầu hết dần. Đến sáng hôm sau thì bệnh đau đầu hoàn toàn không còn nữa. Cơn đau thật sự chấm dứt vào ngày 20 tháng 9 và tôi đã mừng vui tự đáy lòng. Sau đó đi tham lễ Đức Địa Tạng, phải trả lễ như thế nào tôi không rõ biết; nhưng tôi đã thốt lên được lời cảm tạ với cái Đức cao cả, từ bi sâu xa của Ngài Địa Tạng; nên tôi đã thành tâm cảm tạ Ngài. Nam Mô Địa Tạng Đại Bồ Tát Nam Mô Địa Tạng Đại Bồ Tát Kính lễ Ngày 20 tháng 9 năm Chiêu Hòa thứ 52. II. Quyển Hai II.1Câu Chuyện Một Bị Đau Dạ Dày Người đàn bà tên U 50 tuổi tại phố Fuchuu. Câu chuyện được bắt đầu khoảng tháng bảy năm nay. Dạ dày bắt đầu đau khủng khiếp. Khi phân bón ra được một nửa thì lại càng đau hơn chẳng giảm được chút nào. Rất tự tin nơi thân thể của mình, nên chẳng nghỉ ngơi một chút nào hết, nhưng cuối cùng sau 2 ngày như thế tôi phải nghỉ làm. Nguyên là mỗi đêm như thế tôi uống rất nhiều rượu và thường say túy lúy cho đến khi đi ngủ. Trong tháng 3 năm nay đi bệnh viện để chẩn đoán thì được biết rằng đã bị bệnh gan: nhưng tự cảm thấy với thân thể không có chuyện gì nên vẫn tiếp tục làm việc. Vì thế bệnh đau dạ dày nầy đã khép lại. Do vậy khi bắt đầu đau thì cũng chẳng nghĩ là dùng thuốc để trị hay phải tìm đến Bác Sĩ để xem thử ra sao. Lúc bấy giờ câu chuyện của Đức Địa Tạng trên đồi, nơi mà tôi vẫn thường hay lui tới thăm chị của mình có nghe qua từ chị tôi kể về Đức Địa Tạng không có đầu như thế. Đến ngày thứ ba khi bệnh bắt đầu đau trên đường đi làm, tôi lấy cây ấn vào chỗ đau và bước lên con đường dốc nơi phố. Cách ngay cửa ra độ 100 mét tôi đã nhận ra cờ hiệu nơi Đức Đại Tạng không có đầu kia. Khi công việc xong, độ 5.30 giờ chiều, khi xuống dốc, ngồi trên xe điện, tôi đã cầu nguyện Đức Địa Tạng. Mỗi buổi sáng trước khi đi làm tôi có thói quen gần như bắt buộc là hay thăm mộ gia đình bên cạnh nhà. Nhân cơ hội đó cũng có nghĩ về Đức Địa Tạng; nhưng khi nghe thì cũng chưa cảm nhận được với cái tâm ngay thẳng, đồng thời thắp nhan và khấn rằng: “Kính xin Ngài Địa Tạng không có đầu, bảo hộ cho gia đình của con được an ổn. Dạ dày con đang đau, xin làm cho con không còn đau nữa.” Khi lễ bái xong, bên cạnh tôi có một thanh niên độ 20 tuổi (sau nầy tôi được biết là người nầy cũng đã được Đức Địa Tạng gia hộ) đang ngồi trên ghế và khi thanh niên ấy nghe câu chuyện đau dạ dày của tôi liền bảo: “Hãy cầu nguyện Đức Địa Tạng thử xem. Hầu như nhiều người đã làm chuyện ấy lắm.” Như lời khuyên, tôi đứng thật lâu ngang với vai của Ngài Địa Tạng bằng đá như sự an ủi khuyên lơn kia, rồi đi xuống con đường bằng gỗ. Ngay lúc ấy, việc bất khả tư nghì xảy đến, chuyện đau bao tử hầu như không còn nữa. Chỉ chừng ấy thôi cũng quá nhanh để bệnh đau dạ dày dừng lại như là kết quả của sự trị liệu. Chính mình cũng thất kinh luôn. Ngoài việc tin tưởng vào sức mạnh nơi Đức Địa Tạng ra không thể nghĩ thêm được điều gì khác nữa. Không uống thuốc và dẫu buổi trưa có đau nhưng vào ban đêm thì rượu vào để đánh lạc hướng đi; sự trị liệu ấy chính là việc tự nhiên, mà trạng thái ấy chưa hề xảy ra. Trải qua 3 tháng như thế chẳng có đau gì cả. Thế là tôi không thay đổi khác trước, là mỗi đêm đều uống bia cũng như rượu vang. Bây giờ mỗi buổi sáng trước khi bắt đầu đi làm, gần như chuyện bắt buộc là phải đi lễ bái Đức Địa Tạng ở trên ngọn đồi không xa nhà quá một dặm. Dẫu sao thì trong một ngày nơi tâm nầy vẫn cảm thấy được sự an lạc. Trở về với cái tâm ấy quả là chuyện lợi ích sâu xa vô cùng. Xin đối trước Đức Địa Tạng Bồ Tát từ tâm nầy xin lễ bái cung kính vậy. Kính nguyện Ngày 20 tháng 10 năm Chiêu Hòa thứ 52. Theo lien-hoa.net |
|
|
|
|
|
#10 |
|
Cám ơn: 0
Được Thank 13 lần ở 13 bài viết
|
Quả báo cua kẹp
Mùa hè năm 1953, cư sĩ Đổng Quả Kỳ và Pháp chủ Chí Liên Tịnh Uyển tại Toản Thạch Sơn, Cửu Long là Sư cô Khoan Huệ thỉnh Ngài đến giảng Kinh Địa Tạng. Các cư sĩ đã không quản đi xe, chuyển tàu để đến nghe Ngài thuyết giảng. Sư cô Khoan Huệ vốn là đệ tử của Lão Hòa Thượng Hư Vân. Lúc chưa xuất gia, Sư cô làm thuê, giúp người nấu cơm, quét dọn; thế nên khó tránh việc sát sanh giết gà giết vịt... Lần nọ, cô mua một số cua sống về định luộc cho chủ ăn, nhưng vì sơ ý nên bị cua kẹp ngón tay giữa nhứt định không nhả, khiến cô đau thấu tâm can nên cô đành cầm dao chém mạnh xuống một nhát, thân và càng cua đứt đoạn. Cuối cùng cua là món ăn chính của buổi cơm chiều đó. Chẳng bao lâu sau, ngón tay bị cua kẹp của cô chợt sanh ra một miếng thịt dư (giống như miếng thịt cua) khiến cô đau nhức suốt ngày đêm. Mặc dù cô đã dùng biết bao thuốc men nhưng cũng không trị được. Sau đó Cô theo người lên núi Phù Dung dự Lễ Thủy Sám, qua bảy ngày lễ bái miếng thịt dư chợt biến nhỏ lại, mà ngón tay cũng bớt đau nhiều. Trong khóa giảng Kinh Địa Tạng kỳ này, Sư cô bạch Ngài đầu đuôi câu chuyện, khẩn cầu Ngài giúp Sư giải mối oan kiết. Nghe qua Ngài liền Quy y cho cua, sau khi truyền Tam Quy, miếng thịt dư trên ngón tay của Sư Cô Khoan Huệ bổng tiêu mất, ngón tay linh hoạt như thường và tuyệt nhiên không thấy đau nhức chi. Nhân quả báo ứng, thật không sai chạy mảy may, chỉ có khác là đến sớm hay muộn mà thôi! Đây là một trong những câu chuyện về nhân quả hiện tiền mà chính Ngài đã chứng kiến tường tận. Rõ ràng là như vậy chúng ta không thể không tin được. Nên hãy cố gắng thận trọng giữ giới sát sanh, nếu không thì “oan oan tương báo đến bao giờ mới dứt được?” Nếu chúng ta đọc được tác phẩm “Thủy Kính Hồi Thiên Lục” do Ngài Tuyên Hóa diễn giảng thì sẽ rõ thế nào là “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo” tức chuyện lành, dữ đầu đuôi chi rồi cũng có quả báo chuakimquang.com
__________________
Hãy cho lòng mở rộng ra, Thương yêu tất cả như hòa hư không. Đừng mến tiếc, hãy thong dong, Bỏ qua tất cả cõi lòng thảnh thơi. |
|
|
|
![]() |
| Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách) | |
(View-All)
Members who have read this thread since 11-11-2009, 03:53 AM
(Set) (Clear)
|
|
| Charlie's Angel, FEROCIOUSBOY, gà ngon, Humor189, kedge12, Lữ Bố, nail_clipper, ngbooy, nhoklurinlr, sarcastic, umbra26 |
| Ðiều Chỉnh | |
| Xếp Bài | |
|
|